LỜI NHÀ XUẤT BẢN Chủ tịch Hồ Chí Minh - Lãnh tụ thiên tài, người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đến thắng lợi. Người đã cống hiến trọn cuộc đời mình cho độc lập tự do của dân tộc, hạnh phúc của nhân dân; phấn đấu, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng con người, giải phóng nhân loại, đấu tranh cho hòa bình thế giới và tình hữu nghị, hợp tác giữa các dân tộc. Cả cuộc đời và sự nghiệp của Người là tấm gương sáng ngời cho toàn Đảng, toàn dân ta nguyện phấn đấu suốt đời học tập và noi theo.
Nhằm tiếp tục góp phần nghiên cứu thân thế, sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh, cung cấp thêm tư liệu về cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh , Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật tái bản cuốn sách Những tên gọi bí danh, bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (tái bản lần thứ tư, có sửa chữa, bổ sung), do tập thể tác giả thuộc Bảo tàng Hồ Chí Minh sưu tầm, biên soạn.
Mỗi tên gọi, bút danh, bí danh của Người đều gắn liền với những sự kiện lịch sử đất nước, với cột mốc, chặng đường cách mạng của dân tộc, với hành trình cách mạng, với rất nhiều gian khổ, thử thách, hy sinh nhưng đầy vinh quang và phong phú của Người. Với cách trình bày có hệ thống và dễ hiểu, từng bước làm chính xác thêm các cứ liệu lịch sử, các tác giả đã cung cấp cho bạn đọc những tên gọi, bí danh, bút danh mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dùng trong quá trình hoạt động cách mạng của Người.
Mặc dù có nhiều cố gắng nhưng còn một số tên gọi, bút danh, bí danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn cần tiếp tục được nghiên cứu, làm rõ. Do vậy, cuốn sách khó tránh khỏi thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của độc giả.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách với bạn đọc.
Tháng 01 năm 2015
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA – SỰ THẬT
LỜI GIỚI THIỆU Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có hơn 30 năm hoạt động ở nước ngoài. Người qua bốn châu lục, ba đại dương, đặt chân lên gần 30 nước, làm hàng chục nghề khác nhau. Trong điều kiện hoạt động cách mạng bí mật, Người phải thay đổi họ tên rất nhiều lần. Mọi khó khăn, gian khổ, nguy hiểm không làm Người chùn bước. Bất kỳ ở đâu, trong hoàn cảnh nào, Người cũng chỉ có một mục đích như chính Người đã từng nói: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo - là vì mục đích đó” 1 .
Từ Nguyễn Sinh Cung, đến tên gọi Văn Ba khi xuất dương tìm đường cứu nước, rồi trở thành Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, Người đã dùng nhiều tên gọi, bí danh, bút danh khác nhau. Đây là một bằng chứng sinh động nhất về cuộc đời hoạt động cách mạng sôi nổi, phong phú của Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất.
Mỗi tên gọi, mỗi bí danh Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng phần lớn đều gắn với những sự kiện lịch sử, những bước ngoặt quan trọng trong hành trình cứu nước của Người, trong từng chặng đường của cách mạng Việt Nam và đều mang những ý nghĩa nhất định. Nhiều bài báo, tác phẩm Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sử dụng bút danh là những tác phẩm lý luận quan trọng, là cẩm nang chỉ đường cho Đảng và nhân dân ta trong mỗi bước đường cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người sáng lập nền báo chí cách mạng Việt Nam và là một nhà báo có một khối lượng bài viết lớn: khoảng 2.000 bài.
Trên cơ sở tài liệu lưu giữ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh qua một số sách, báo đã công bố, trong cuốn sách này, bước đầu chúng tôi tập hợp và giới thiệu với bạn đọc 174 tên gọi, bí danh và bút danh Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng. Con số này chắc hẳn cũng chưa dừng ở đây, vì chúng ta còn tiếp tục nghiên cứu, xác minh, sưu tầm.
C uốn sách giới thiệu với bạn đọc những tên chính thức của Chủ tịch Hồ Chí Minh , những tên được người khác gọi, những bí danh trong thời kỳ hoạt động bí mật và những bút danh Người viết báo chí theo thứ tự thời gian. Vì không có điều kiện giới thiệu nội dung các bài viết, các tác phẩm nên chúng tôi chỉ nêu một số thông tin cần thiết xung quanh mỗi tên gọi, mỗi bí danh và bút danh của Người.
Một số tên gọi: Ông Ké, Ông Cụ, Bác, v.v., có thể coi là tên gọi được không hay chỉ là cách xưng hô trong giao tiếp. Với suy nghĩ đây là trường hợp đặc biệt, mang nhiều ý nghĩa, nên chúng tôi cũng đưa vào cuốn sách này. Bởi hiếm có vị lãnh tụ nào trên thế giới được nhân dân cả nước yêu mến đặc biệt như Chủ tịch Hồ Chí Minh , từ già đến trẻ, từ thế hệ này qua thế hệ khác đều kính yêu gọi Người với hai tiếng giản dị, gần gũi, nhưng rất đỗi thiêng liêng: Bác Hồ.
Chúng tôi tạm quy ước những chữ ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh dưới mỗi bài viết, mỗi bức điện, bức thư, v.v. đều đưa vào danh mục tên gọi, bí danh, bút danh, trong đó có cả những chữ ký như chữ ký Anh trong thư gửi đồng chí Nguyễn Khánh Toàn tháng 8-1947; chữ ký B. trong bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đồng chí Lê Duẩn tháng 3-1968, v.v..
Những bút danh cùng một nhóm, xuất phát từ tên gọi Nguyễn Ái Quốc như: N.A.Q; Ng.A.Q; Ái Quốc, v.v., chúng tôi đưa trung thành như Người ghi trong mỗi bài viết, mỗi bức thư.
Những bí danh xuất hiện trong các thời kỳ khác nhau, theo các hồi ký kể lại, khi đưa vào sách cũng chỉ rõ nguồn xuất xứ để bạn đọc thấy được mức độ tin cậy của nguồn tài liệu như bí danh: Tống Thiệu Tổ, New Man, v.v..
Một số tên gọi Nguyễn Ái Quốc ghi là địa chỉ để liên lạc, nhận thư, báo như: Ông Lu, Tiết Nguyệt Lâm, Víchto Lơbông, v.v., chúng tôi cũng ghi trung thành như tài liệu để bạn đọc tiện sử dụng.
Một số tên gọi, bút danh của Bác được các bài viết khác đề cập đến, song do chưa có tài liệu xác minh nên chúng tôi đưa vào phần cuối của sách để nghiên cứu, tìm hiểu thêm.
So với những bài viết trước đây, trong cuốn sách này ngoài việc xác minh, hệ thống lại đàn bộ các tên gọi, bí danh, bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng tôi giới thiệu thêm gần 30 tên gọi và bút danh của Người mới sưu tầm được. Chúng tôi cũng giới thiệu một số trang bản thảo, những tấm ảnh, những tấm thẻ, v.v. đánh dấu mỗi chặng đường hoạt rộng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hy vọng cuốn sách sẽ là tài liệu góp phần giúp các nhà nghiên cứu và bạn đọc tìm hiểu, khám phá về cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Chúng tôi mong được bạn đọc và các nhà nghiên cửu bổ sung những tên gọi, bút danh, bí danh khác và những bài viết của Người trên các báo và tạp chí ở trong và ngoài nước mà đến nay chưa phát tiện, sưu tầm hết.
Trong quá trình biên soạn, cuốn sách khó tránh khỏi thiếu sót. Rất mong bạn đọc đóng góp ý kiến để cuốn sách được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn.
BẢO TÀNG HỒ CHÍ MINH
___________________
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập , Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011, t4, tr.272.
Những tên gọi, bí danh, bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh 1. Nguyễn Sinh Cung - 1890
Nguyễn Sinh Cung là tên lúc thiếu thời của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ngày 19-5-1890 tại quê mẹ là làng Hoàng Trù (thường gọi là làng Chùa), xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (nay thuộc xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An).
2. Nguyễn Sinh Côn
Theo một số hồi ký của các bạn học cùng trường Quốc học Huế với Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nguyễn Sinh Cung còn thường được gọi là Nguyễn Sinh Côn . Trong một bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, năm 1954, Người cũng ghi tên còn nhỏ của mình là Nguyễn Sinh Côn 1 .
3. Nguyễn Tất Thành – 1901
Tháng 5-1901, ông Nguyễn Sinh Sắc đậu phó bảng khoa thi Hội năm Tân Sửu. Khoảng tháng 9-1901, ông chuyển về sống ở quê nội xã Kim Liên. Theo tục lệ, ông Nguyễn Sinh Sắc được làng Kim Liên đón về và được làng cấp đất công, xuất quỹ làm cho một ngôi nhà. Nhân dịp này ông Nguyễn Sinh Sắc làm "lễ vào làng" cho hai con trai với tên mới: Nguyễn Tất Đạt (Sinh Khiêm), Nguyễn Tất Thành (Sinh Cung). Thành Đạt là mong muốn của người cha đặt hy vọng vào hai con.
4. Nguyễn Văn Thành
5. Nguyễn Bé Con
Trong tài liệu đề ngày 6-2-1920 của Tổng đốc Vinh cung cấp về Nguyễn Sinh Sắc và 2 con trai, ghi lời khai của lý trưởng, hào lý làng Kim Liên, tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn: Con trai thứ của Nguyễn Sinh Sắc là Nguyễn Bé Con .
Tài liệu mật thám Pháp theo dõi hoạt động của Nguyễn Ái Quốc, bản ghi số 1116, năm 1931 một số nét về gia đình, quê quán và nhận dạng Nguyễn Ái Quốc: Nguyễn Ái Quốc hay Nguyễn Văn Thành tức Nguyễn Sinh Côn hay Nguyễn Bé Con tức Lý Thụy... đã cư trú nhiều năm tại Mỹ, Anh, Pháp và nước Nga.
6. Văn Ba – 1911
Với hoài bão, quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước, Nguyễn Tất Thành xin làm việc ở tàu Đô đốc Latusơ Tơrêvin (Amial Latouche Tréville), một tàu lớn vừa chở hàng, vừa chở khách của hãng Năm Sao đang chuẩn bị rời cảng Sài Gòn đi Mácxây (Marseill), Pháp.
Ngày 3-6-1911, Nguyễn Tất Thành bắt đầu làm việc trên tàu.
Ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc ra đi, bắt đầu cuộc hành trình cứu nước. Trong sổ lương của tàu tên anh là Văn Ba .
Những người bạn cùng làm việc với Văn Ba ở tàu Đô đốc Latusơ Tơrêvin đều thân mật gọi anh là Ba , anh Ba . Anh Ba sống giản dị, gần gũi với mọi người. Những việc làm của anh đã để lại trong họ ấn tượng, tình cảm tốt đẹp.
Hơn mười năm sau, khi trả lời nhà báo Nga Ôxíp Manđenxtam, Nguyễn Ái Quốc nói về mục đích chuyến đi của mình năm ấy: “Vào trạc tuổi mười ba, lần đầu tiên tôi được nghe những từ Pháp Tự do - Bình đẳng - Bác ái. Đối với chúng tôi, người da trắng nào cũng là người Pháp. Người Pháp đã nói thế và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những từ ấy" 2 .
Một lần khác, Người trả lời nhà văn Mỹ Anna Luy Xtơrông: "Nhân dân Việt Nam trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau ai là người sẽ giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Nhật, người khác nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ.
Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi” 3 .
7. Pôn Tất Thành (Paul Tat Thanh) – 1912
Giữa tháng 12-1912, Nguyễn Tất Thành đến nước Mỹ. Ngày 15-12-1912, từ Niu Oóc (New York), Nguyễn Tất Thành gửi thư cho Khâm sứ Trung Kỳ nhờ tìm địa chỉ của thân phụ mình là Nguyễn Sinh Huy. Thư ký tên Pôn Tất Thành .
8. Tất Thành – 1914
Từ nước Anh, Nguyễn Tất Thành gửi thư cho cụ Phan Chu Trinh ở Pháp thông báo tình hình học tập, sinh hoạt của bản thân. Trong một thư khác anh nhận định, bàn luận tình hình thời cuộc. Thư ký tên Tất Thành . Hiện sưu tầm được 4 thư ký tên Tất Thành gửi cho cụ Phan Chu Trinh, trong đó có 3 thư Người ký C.Đ Tất Thành , 1 thư ký Cuồng Điệt 4 Tất Thành .
9. Pôn Thành (Paul Thanh) – 1915
Ngày 16-4-1915, Nguyễn Tất Thành viết thư cho Toàn quyền Đông Dương qua lãnh sự Anh tại Sài Gòn nhờ tìm địa chỉ của cha mình. Thư ký tên Pôn Thành.
10. Nguyễn Ái Quốc – 1919
Nguyễn Ái Quốc - cái tên bắt đầu một chặng đường mới trong hành trình cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nguyễn Tất Thành trở lại Pháp và bắt đầu hoạt động chính trị dưới cái tên Nguyễn Ái Quốc . Song tên mới Nguyễn Ái Quốc thực sự được nhiều người biết đến khi Người thay mặt nhóm những người Việt Nam yêu nước tại Pháp ngày 18-6-1919 gửi lên Hội nghị Vécxây bản yêu sách 8 điểm của nhân dân Việt Nam đòi chính phủ Pháp thừa nhận các quyền tự do, dân chủ và quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam. Từ đây bắt đầu một thời kỳ hoạt động sôi nổi của Nguyễn Ái Quốc - linh hồn của phong trào những người Việt Nam yêu nước tại Pháp.
Những năm Nguyễn Ái Quốc hoạt động ở Pháp, chính quyền thực dân coi Nguyễn Ái Quốc là một nhân vật nguy hiểm. Chúng huy động cả một lực lượng mật thám thường xuyên theo dõi, thu thập tài liệu về Người. Đã có hàng vạn trang tài liệu liên quan đến hoạt động của Nguyễn Ái Quốc . Song không một trở lực nào có thể ngăn cản được ý chí và quyết tâm cứu nước của Người.
Với bút danh Nguyễn Ái Quốc , Người viết hàng trăm bài báo phục vụ sự nghiệp tuyên truyền cách mạng. Trong khoảng thời gian từ năm 1919 đến năm 1926, bút danh Nguyễn Ái Quốc được sử dụng nhiều nhất. Với bút danh Nguyễn Ái Quốc , Người viết các tác phẩm quan trọng đối với cách mạng Việt Nam: Bản án chế độ thực dân Pháp (1925) và Đường cách mệnh (1927). Tác phẩm đầu là bản cáo trạng đối với chủ nghĩa đế quốc Pháp nói riêng và chủ nghĩa đế quốc nói chung để thức tỉnh đồng bào Việt Nam và các dân tộc bị áp bức; tác phẩm sau là định hướng cho hành động cách mạng.
Sau lần bị bắt tại Hương Cảng năm 1931, mật thám Pháp tưởng Nguyễn Ái Quốc đã bị chết trong nhà tù vì những tin đồn do chính luật sư Lôdơbi tung ra để bảo vệ Người thêm phần an toàn khi trốn tránh. Năm 1933, Nguyễn Ái Quốc chắp nối liên lạc được với các tổ chức cách mạng và Người đi Liên Xô. Nguyễn Ái Quốc tiếp tục con đường cứu nước của mình. Một thời gian dài Nguyễn Ái Quốc mất hút trong sổ điều tra của mật thám Pháp và mật thám Đông Dương. Tên gọi Nguyễn Ái Quốc xuất hiện trong lời kêu gọi: Kính cáo đồng bào, ngày 6-6-1941. Đến tận lúc này mật thám Đông Dương mới bàng hoàng được nguồn tin cho biết Già Thu, Thu Sơn xuất hiện ở biên giới Việt Trung chính là Nguyễn Ái Quốc .
Nguyễn Ái Quốc một cái tên để lại nhiều dấu ấn lịch sử trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và trong cách mạng Việt Nam. Song Người chỉ khiêm tốn nhận mình là "Tôi vẫn là tôi ngày trước, một người yêu nước" 5 .
11. Phécđinăng
Phécđinăng là biệt hiệu bạn bè Pháp gọi Nguyễn Ái Quốc khi Người hoạt động ở Pháp đầu những năm 1920. Bí mật, khôn khéo, thông minh, phán đoán nhanh nên hoạt động của Người ở Pháp không chỉ che được mắt mật thám mà cả những người xung quanh, nếu không thật sự gần gũi cũng không thể nào biết được. Những người bạn Pháp của Nguyễn Ái Quốc lúc đó cũng ngạc nhiên, khâm phục tài biến hoá của Người. Nữ đồng chí Maria Lêôni, một cán bộ của Đảng Xã hội Pháp, thắc mắc về hoạt động của anh Nguyễn với Pônvayăng Cutuyariê. Chị đọc một cuốn truyện trinh thám, Phécđinăng, nhân vật của câu chuyện là người cách mạng châu Á bị cảnh sát lùng bắt, cải trang thành một người châu Âu, giống đến nỗi hoạt động ngay trước mặt cảnh sát mà chúng không biết. Chị bị cuốn tiểu thuyết ám ảnh, không biết Nguyễn Ái Quốc có phải là Phécđinăng hay không. Pôn nói nếu chị nghĩ thế cứ gọi Nguyễn là Phécđinăng . Từ đó Nguyễn Ái Quốc có thêm biệt hiệu Phécđinăng . Bạn bè gọi anh Nguyễn là Phécđinăng với lòng đầy cảm phục và yêu mến.
12. Nguyễn A.Q – 1921-1926
Nguyễn Ái Quốc dùng bút danh Nguyễn A.Q vào đầu những năm 1920. Hiện sưu tầm được 2 bài báo Người ký bút danh Nguyễn A.Q. Bài báo đầu tiên Người ký bút danh Nguyễn A.Q là “ Hãy yêu mến nước Pháp, người bảo hộ các anh” đăng lên báo Le Libertaire (Người tự do) 6 , ngày 7 đến 14-10-1921.
"Hãy yêu mến nước Pháp, người bảo hộ các anh" là dòng chữ to màu trắng treo trong tất cả các lớp học ở Đông Dương. Song mỉa mai thay, nước Pháp đã bảo hộ bằng sự cướp bóc, chém giết, hãm hiếp những người dân Đông Dương. Bài báo lên án tội ác của thực dân Pháp, đồng thời cũng chỉ cho những người còn mơ hồ ảo tưởng về sự bảo hộ của nước Pháp.
Nguyễn A.Q còn được ký dưới bức tranh, đăng trên báo Le Paria (Người cùng khổ) 7 , số 5, ngày 1-8-1922. Trong một số thư Người cũng ký tên Nguyễn A.Q.
13. CULIXE – 1922
Nguyễn Ái Quốc ký bút danh CULIXE trong bài báo Rủi ro: Cảnh sinh họat của thợ thuyền Annam, đăng trên báo L' Humanité (Nhân đạo) 8 ngày 18-3-1922.
Nội dung bài báo: Người thợ kéo xe giữa cái nóng oi bức của trời Sài Gòn. Khách lên xe là một tên thực dân, không trả tiền xe. Khi người phu kéo xe đòi trả tiền, thay cho việc móc túi lấy tiền trả, vị khách thực dân đã rút súng ra đáp lại. Bài ký bút danh CULIXE và ghi ở dưới là Nguyễn Ái Quốc dịch, song thực ra đây là bài báo do Nguyễn Ái Quốc viết.
14. N.A.Q – 1922
Nguyễn Ái Quốc dùng bút danh N.A.Q vào những năm 1922 đến năm 1930.
Với bút danh N.A.Q , Người viết bài đăng trên các báo Le Paria, L' Humanité .
Bài báo đầu tiên Người ký bút danh N.A.Q là bài Bình đẳng , đăng trên báo L' Humanité (Nhân đạo) ngày 1-6-1922. Bài báo viết: "Để che đậy sự xấu xa của chế độ bóc lột giết người, chủ nghĩa tư bản thực dân luôn luôn điểm trang cho cái huy chương mục nát của nó bằng những châm ngôn lý tưởng: Bác ái, Bình đẳng, v.v.". Nguyễn Ái Quốc đã vạch trần những thủ đoạn bóc lột, bất bình đẳng, phân biệt đối xử của bọn thực dân đối với người dân thuộc địa. Hiện đã tập hợp 5 bài báo ký bút danh N.A.Q . Cũng với bút danh này, Người còn ký trong một số thư và báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản.
15. Ng.A.Q – 1922
Nguyễn Ái Quốc dùng bút danh Ng.A.Q từ năm 1922 đến năm 1925.
Bài báo đầu tiên Người ký bút danh Ng.A.Q là bài: Sở thích đặc biệt đăng trên báo Le Paria (Người cùng khổ), ngày 1-8-1922. Tác giả mượn lời giải thích của Bộ trưởng Bộ thuộc địa Anbe Sarô về những “sở thích đặc biệt" của "đức vua Khải Định" để tố cáo sự trác táng của vị “hoàng đế nước An Nam này" . Cũng với bút danh trên, Người ký dưới bức tranh Triển lãm thuộc địa (exposition coloniale) đăng trên báo Le Paria (Người cùng khổ) số 2, ngày 1-5-1922.
16. Hăngri Trần (Henri Tchen) – 1922
Hăngri Trần là tên ghi trong thẻ đảng viên Đảng Cộng sản Pháp của Nguyễn Ái Quốc. Số thẻ 13861.
17. N – 1923
Nguyễn Ái Quốc dùng bút danh N. trong các năm 1923-1924, 1928.
Với bút danh N. Người viết bài Lòng ngay thẳng của Chính phủ thuộc địa đăng trên báo Le Paria (Người cùng khổ) số 11, ngày 1- 2-1923. Hiện sưu tầm được 6 bài báo ký bút danh N.
Nội dung chủ yếu của các bài báo: Tố cáo sự lừa đảo, bịp bợm, vạch trần những thủ đoạn lừa đảo, núp dưới các từ bóng bẩy như bình đẳng, nhân quyền... Đồng thời cũng lên tiếng phản đối, mỉa mai những kẻ luồn cúi, nịnh bợ bọn thực dân cướp nước.
18. Chen Vang – 1923
Khi quyết định trở về gần Tổ quốc, ngày 18-6-1923, Nguyễn Ái Quốc bí mật rời Pari đi Liên Xô, Tổ quốc của cách mạng, đất nước mà từ lâu Người mơ ước đặt chân tới.
Ngày 16-6-1923, Người đến nước Đức. Tại đây Người được cơ quan đặc mệnh toàn quyền Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xôviết liên bang Nga tại Béclin cấp cho giấy đi đường số 1829, trong giấy này Người mang tên Chen Vang.
19. Nguyễn – 1923
Nguyễn Ái Quốc dùng bút danh Nguyễn trong các năm 1923, 1924, 1928.
Người ký bút danh Nguyễn trong bức tranh Sự phục thù của Tutăng Camông (Répsésailles de Toutan Kamon) đăng trên báo Le Paria (Người cùng khổ) số 13, năm 1923.
Bài Đông Dương khổ nhục viết năm l928. Bài viết tố cáo tội ác của đế quốc Pháp ở Đông Dương, kêu gọi sự đoàn kết, giúp đỡ của giai cấp vô sản thế giới đối với cách mạng Đông Dương: "Những người bạn bất hạnh của các bạn hiện đang giãy giụa ở Đông Dương. Họ đang trải qua những giờ phút khó khăn để tự giải phóng. Đế quốc Pháp đang giết hại họ, đang tước đoạt của cải họ. Mong các bạn nghĩ tới họ; tiếng thét căm thù của họ phải được hòa lẫn với tiếng thét của các bạn để chặn bàn tay giết người của bọn đế quốc Pháp ăn cướp. Mong rằng sự quan tâm của các bạn đối với phong trào đấu tranh sẽ cổ vũ họ trong tương lai lật đổ được bọn đế quốc áp bức bóc lột”.
20. Chú Nguyễn – 1923
Chú Nguyễn là tên Nguyễn Ái Quốc ký trong bức thư gửi các bạn cùng hoạt động ở Pháp trước khi Người rời Pari đi Liên Xô năm 1923. Một bức thư tình cảm để chia tay với các bạn cùng hoạt động và các cháu nhỏ. Bức thư đã cho thấy quan điểm về cuộc đấu tranh và mục đích ra đi của Người: “Đối với tôi câu trả lời đã rõ ràng: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập".
21. Ái Quốc – 1924
Ái Quốc là tên ghi trong thẻ dự Đại hội V Quốc tế Cộng sản của Nguyễn Ái Quốc (tháng 6-1924).
Tháng 8-1927, Nguyễn Ái Quốc gửi đồng chí Phơrăngxoa Biu (Francois Billous) tấm bưu ảnh, trong đó có ghi địa chỉ để liên lạc của mình là: Ái Quốc , Krưm - Eppatôria, Nhà an dưỡng Lênin. Sau này Người còn ký tên Ái Quốc trong một số thư khác.
22. Un Annamite (Một người An Nam) – 1924
Nguyễn Ái Quốc ký bút danh Un Annamite trong bài viết Tình hình những người lao động ở Đông Dương đăng trên báo Le Paria (Người cùng khổ), số 28, tháng 8 - 1924. Nội dung bài báo là bản tham luận Nguyễn Ái Quốc đọc tại Đại hội lần thứ III Quốc tế Công hội đỏ ngày 21-7-1924, đã được Người sửa chữa và bổ sung thêm.
23. Loo Shing Yan – 1924
Bài Thư từ Trung Quốc , số 1, ngày 12-11-1924, của Nguyễn Ái Quốc viết về phong trào cách mạng Trung Quốc, sự thức tỉnh, giác ngộ cách mạng cho phụ nữ Trung Quốc, gửi tạp chí RABÔTNHÍTXA 9 . Trong bài Người ký bút danh Loo Shing Yan (Nữ đảng viên Quốc dân đảng). Lý do dùng bút danh này được Người viết trong bức thư gửi ban biên tập tạp chí ngày 12-ll-1924: "Khi tôi còn ở Quốc tế Cộng sản, tôi phấn khởi được đôi lần cộng tác với tờ báo của các đồng chí. Nay tôi muốn tiếp tục sự cộng tác ấy. Nhưng vì ở đây tôi hoạt động bất hợp pháp, cho nên tôi gửi bài cho các đồng chí dưới hình thức "Những bức thư từ Trung Quốc" và ký tên một phụ nữ. Tôi nghĩ rằng làm như vậy những bài viết có tính chất độc đáo hơn và phong phú hơn đối với độc giả, đồng thời cũng bảo đảm giấu được tên thật của tôi".
24. Ông Lu 10 – 1924
Ngày 12-11-1924, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi một đồng chí trong Quốc tế Cộng sản báo tin Người đã đến Quảng Châu, Trung Quốc. Cuối thư Người ghi địa chỉ liên lạc của mình là: Ông Lu , Hãng thông tấn RÔXTA, Quảng Châu, Trung Quốc. Sau này trong nhiều thư khác Nguyễn Ái Quốc cũng ghi địa chỉ liên lạc là Ông Lu .
25. Lý Thụy – 1924
Nguyễn Ái Quốc dùng bí danh Lý Thụy trong thời gian Người hoạt động ở Trung Quốc.
Ngày 11-11-1924, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu với các giấy tờ tùy thân mang tên mới: Lý Thụy.
Trong bức thư gửi Quốc tế Cộng sản, ngày 18-12-1924, Nguyễn Ái Quốc ghi ở cuối thư: "Trong lúc này tôi là một người Trung Quốc chứ không phải là một người An Nam, và tên tôi là Lý Thụy chứ không phải là Nguyễn Ái Quốc".
26. Lý An Nam – 1924-1925
Nguyễn Ái Quốc hoạt động ở Quảng Châu, Trung Quốc với bí danh là Lý Thụy, làm phiên dịch trong văn phòng của Đoàn cố vấn Xôviết tại Quảng Châu. Mọi người thường gọi Người là anh Lý , anh Lý An Nam . Bà V.V.Visơniacôva - Akimôva, thư ký của cố vấn Bôrôđin, cùng làm việc với Nguyễn Ái Quốc lúc đó nhớ lại: "... số phận đã đưa tôi làm việc gần gũi với một trong những người kiệt xuất hồi đó đã sống ở Quảng Châu. Đó là người Việt Nam họ Lý. Chúng tôi gọi đùa anh là Lý An Nam. Tôi vẫn nhớ như in anh có thể hình gầy gò, không cao lắm, mặc bộ quần áo chúc bâu mầu trắng, rộng thùng thình. Anh nói thông thạo tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Quảng Đông và biết tiếng Nga. Anh đã dạy tôi những bài vỡ lòng tiếng Việt... Trong ngôi nhà của Bôrôđin anh là người nhà" 11 .
27. Nilốpxki (N.A.Q) – 1924
Cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu, Trung Quốc. Người đến ở và làm việc tại cơ quan của đồng chí Bôrôđin, cố vấn của ông Tôn Dật Tiên. Cương vị của Nguyễn Ái Quốc trong Quốc tế Cộng sản và nhiệm vụ công tác của Người chỉ có đồng chí Bôrôđin và vợ Bôrôđin là đồng chí Phanhia Xêmênôvôna Bôrôđinna biết. Về công khai, Nguyễn Ái Quốc là cố vấn riêng và là phiên dịch của Bôrôđin, đồng thời là phóng viên của hãng RÔXTA. Sống và làm việc giữa các đồng chí chuyên gia Xôviết, Nguyễn Ái Quốc mang thêm một tên Nga: Nilốpxki .
Nguyễn Ái Quốc ký tên Nilốpxki trong bài Phong trào nông dân tỉnh Quảng Đông , ngày 16-10-1925.
Trong Thư gửi đoàn Chủ tịch Quốc tế nông dân , ngày 5-11-1925, Nguyễn Ái Quốc ký tên: Nilốpxki (N.A.Q).
Hiện tập hợp được 6 thư và bài Nguyễn Ái Quốc ký tên Nilốpxki (N.A.Q) và Nilốpxki.
28. Vương – 1925
Bí danh của Nguyễn Ái Quốc xuất hiện từ đầu năm 1925, trong thời gian hoạt động ở Trung Quốc.
Đầu năm 1926, Nguyễn Ái Quốc mở lớp huấn luyện chính trị tại số nhà 13/1 (nay là số 248-250), đường Văn Minh, Quảng Châu, Trung Quốc. Người trực tiếp lãnh đạo và là giảng viên chính của các khoá học. Người lấy tên là Vương .
Vương cũng là bí danh khi Người bắt liên lạc với đồng chí Nguyễn Lương Bằng ở Trung Quốc năm 1925.
29. L.T – 1925
Nguyễn Ái Quốc dùng bút danh L.T từ năm 1925. Người ký trong Thư gửi ông H (Thượng Huyền) ngày 9 tháng 4 năm 1925.
Sau này, với bút danh L.T, Người còn viết khoảng 15 bài báo đăng trên báo Nhân Dân 12 trong các năm 1949, 1957, 1958, 1960. Trong đó có các bài:
Thuốc đắng dã tật nói thật mất lòng viết cho chuyên mục Sửa đổi lối làm việc của báo Sự thật, đăng trên số 109, ngày 15-4-1949. Bài viết nêu lên sức mạnh của phê bình, phê bình công khai, cũng như thuốc đắng dã tật.
Tình nghĩa anh em Việt - Ấn – Miến , viết về chuyến đi thăm hữu nghị hai nước Ấn Độ và Miến Điện 13 của Chủ tịch Hồ Chí Minh tháng 2-1958. Bài viết được đăng liền trên báo Nhân Dân trong một tháng, từ ngày 26-2-1958 đến ngày 25-1-1958. Dưới hình thức bức thư viết về cho em gái, Người với danh nghĩa là một cán bộ được theo Bác đi thăm hai nước, đã viết thư kể về chuyến đi này, về tình hữu nghị thắm thiết anh em giữa ba nước . Việt - Ấn - Miến, về cuộc sống, con người, nền văn minh, văn hoá của hai nước Ấn, Miến, v.v..
30. HOWANG T.S – 1925
Nguyễn Ái Quốc ký bút danh HOWANG T.S trong bài Đại hội công nhân và nông dân (ngày 2-5-1925) viết về Đại hội lần thứ nhất của nông dân tỉnh Quảng Đông và là Đại hội lần thứ hai của công nhân toàn Trung Quốc, cả hai Đại hội cùng họp chung.
31. Z.A.C – 1925
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Z.A.C là bút danh Nguyễn Ái Quốc viết bài đăng trên báo Thanh niên, cơ quan ngôn luận của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên. Tờ báo do Nguyễn Ái Quốc sáng lập, ra số đầu tiên ngày 21-6-1925. Nguyễn Ái Quốc là cây bút chủ chốt của tờ báo. Trong ban biên tập còn có các đồng chí Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu, Lê Duy Điếm. Những bài viết quan trọng về chính trị, tư tưởng là bài viết của Nguyễn Ái Quốc. Bài của Nguyễn Ái Quốc ký bút danh Z.A.C trong số ra đầu tiên có thể coi là tuyên ngôn của tờ báo:
"Để dẫn dắt nhân dân làm một sự nghiệp vĩ đại cần phải có một sức lãnh đạo, sức lãnh đạo đó không phải có một vài người thôi, mà phát sinh từ sự hiệp lực của hàng nghìn vạn người.
Muốn cho hàng vạn người ấy đoàn kết chặt chẽ với nhau thì họ phải cùng một ý chí như nhau, họ phải nuôi kỳ vọng giống nhau, có như vậy mới có đoàn kết.
Khi nào cùng ý chí, cùng kỳ vọng thì khi ấy mới có thể đoàn kết, bằng không dầu có hô hào đoàn kết mấy đi nữa cũng không thể nào đoàn kết được.
Sự nghiệp cách mạng lớn 1ắm. Những người cách mạng phải đoàn kết với nhau để thực hiện sự nghiệp đó. Người mình đã làm việc cách mạng nhiều năm rồi mà chưa thành công bởi vì thiếu đoàn kết với nhau”.
32. Lý Mỗ 14 – 1925
Nguyễn Ái Quốc hoạt động ở Quảng Châu, Trung Quốc. Ngày 13-7-1925, Người đến Uỷ ban bãi công Cảng tỉnh đề nghị được tham gia vào đội diễn thuyết với danh nghĩa là hội viên Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức. Trong danh sách đội diễn thuyết ghi tên là Lý Thụy. Về việc này, báo Công nhân chi lộ đặc hiệu số 20, ra ngày 14-7-1925 đã đưa tin một người Việt Nam gia nhập đội diễn thuyết và để giữ bí mật cho Nguyễn Ái Quốc, tờ báo dùng tên gọi Lý Mỗ .
33. Trương Nhược Trừng – 1925
34. Vương Sơn Nhi – 1925
Nguyễn Ái Quốc phụ trách tờ báo Thanh niên , ngoài việc lo chạy viết đủ bài hàng tuần cho báo, Người còn viết bài cho báo tiếng Anh Quảng Châu báo với bút danh Vương Sơn Nhi, Trương Nhược Trừng.
35. Vương Đạt Nhân – 1926
Nguyễn Ái Quốc với bí danh Vương Đạt Nhân được Đoàn Chủ tịch Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Quốc dân đảng Trung Quốc mời đến dự và phát biểu ý kiến tại phiên họp thứ 9 của Đại hội họp ngày 14-1-1926.
38. Mộng Liên – 1926
Nguyễn Ái Quốc dùng bút danh Mộng Liên năm 1926. Người ký dưới bài viết: Mục dành cho phụ nữ: Về sự bất công , đăng trên báo Thanh niên , số 40, ngày 4-4-1926. Bài viết về những bất công đối với phụ nữ trong gia đình và xã hội, kêu gọi chị em vùng lên chống lại những áp bức bất công đó.
37. X – 1926
Nguyễn Ái Quốc dùng bút danh X. trong các năm 1926, 1927. Với bút danh X. , Người viết một loạt bài nhan đề Các sự biến ở Trung Quốc viết về tình hình chính trị ở Trung Quốc, đăng trên 7 số báo L' Annam . Bài đầu tiên đăng trong số 118, ngày 2-12-1926 15 .
38. H.T – 1926
Nguyễn Ái Quốc dùng bút danh H.T từ năm 1926. Người ký trong bài viết Bà Trưng Trắc đăng trên báo Thanh niên , số 73, ngày 12-12-1926.
Cùng với bút danh Mộng Liên, H.T là bút danh của Nguyễn Ái Quốc viết bài cho báo Thanh niên . Còn một số bút danh khác như: Hạ Sĩ, Hương Mộng, Diệu Hương, v.v. có thể là bút danh của Nguyễn Ái Quốc. Bởi lúc đó chưa có nhiều người viết bài cho báo Thanh niên
39. Tống Thiệu Tổ - 1926
Theo hồi ký của một số người hoạt động ở Quảng Châu, Trung Quốc, Tống Thiệu Tổ là bí danh của Nguyễn Ái Quốc khi Người hoạt động ở Quảng Châu, Trung Quốc.
40. X.X 16 – 1926
Nguyễn Ái Quốc ký bút danh X.X năm 1926 dưới bài viết Phong trào cách mạng ở Đông Dương đăng trên tập san Inprekorr (Thư tín quốc tế), số 91, ngày 14-8-1926, viết về tình hình kinh tế, chính trị, đời sống khổ cực của nông dân, các phong trào yêu nước của sinh viên và hoạt động của một số tổ chức chính trị.
41. Wang – 1927
Nguyễn Ái Quốc dùng bút danh Wang trong các năm 1927,1928.
Với bút danh Wang, Người viết một loạt bài đăng trên tập san Inprekorr (Thư tín quốc tế). Bài đầu tiên là: Những tội ác kinh khủng của đế quốc Pháp ở Đông Dương in trong tập san Inprekorr , số 99, ngày 28-9-1927.
Trong số 7 bài Người ký bút danh Wang được in trong Hồ Chí Minh toàn tập , có 4 bài viết về phong trào nông dân và công nhân Ấn Độ, 3 bài tiết về tội ác của chủ nghĩa đế quốc Pháp ở Đông Dương. Những bài viết không chỉ tố cáo tội ác của đế quốc Pháp mà còn giác ngộ thức tỉnh cho đồng bào.
42. N.K – 1927
Nguyễn Ái Quốc dùng bút danh N.K năm 1927. Người ký bút danh N.K dưới bài Sự thống trị của đế quốc Pháp ở Đông Dương đăng trong tập san Inprekorr (Thư tín quốc tế), tiếng Pháp, số 104, ngày 15- 10-1927. Hiện mới sưu tầm được một bài ký bút danh N.K.
43. N. Ái Quốc – 1927
44. Liwang - 1927
Ngày 16-12-1927, từ Béclin, Nguyễn Ái Quốc viết thư Gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân đề nghị giúp đỡ tiền để chuẩn bị về nước. Thư viết: "Trong 2 hoặc 3 tuần lễ tôi sẽ trở về đất nước tôi. Chuyến đi của tôi tốn chừng 500 đôla Mỹ.
Vì tôi không có tiền nên tôi mong các đồng chí giúp tôi.” Thư ký tên N. Ái Quốc .
Trong thư Người đề nghị nếu có tiền xin gửi đến Ủy ban Trung ương của Đảng Cộng sản Đức, cho "Liwang”.
45. Ông Lai – 1927
Cũng trong thư Gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân, ngày 16-12-1927, Nguyễn Ái Quốc ghi địa chỉ trả lời thư cho Người. Ông Lai , ở nhà ông Écxten, 21 phố Halesơ, Béclin (Nguyên văn: M. Lai, Chez M. Eckshtetein, Halle-chactrasse, Beclin.
46. A.P – 1927
Nguyễn Ái Quốc dùng bút danh A.P năm 1927.
Với bút danh A.P Người viết bài "Văn minh” Pháp ở Đông Dương đăng tên tập san Inprekorr (Thư tín quốc tế), tiếng Đức, số 17, năm 1927. Bài viết tố cáo tội ác của đế quốc Pháp ở Đông Dương.
47. N.A.K – 1928
Nguyễn Ái Quốc ký N.A.K trong Thư gửi Quốc tế Nông dân ngày 3-2-1928. Trong thư, Người thông báo trong khi chờ đợi ngày lên đường, Người tranh thủ thời gian viết về phong trào nông dân, chủ yếu về phong trào Hải Lục Phong, Quảng Châu, Trung Quốc, nơi đã lập các Xôviết nông dân.
48. Nguyễn Lai – 1928
Năm 1928, với thẻ nhập cảnh mang tên Nguyễn Lai , một Hoa kiều, Nguyễn Ái Quốc qua bến cảng Thái Lan, đặt chân đến đất Xiêm (Thái Lan).
49. Thọ - 1928
50. Nam Sơn – 1928
Nguyễn Ái Quốc hoạt động ở Xiêm (Thái Lan). Tháng 7-1928, Người xuất hiện ở Bản Đông, huyện Phichít, tỉnh Phítxanulốc, miền Trung nước Xiêm. Đây là một làng Việt kiều với chừng hai chục gia đình, từ năm 1926 đã có những tổ chức cách mạng như Hội Thanh niên cách mạng Việt Nam, Hội Hợp tác, Hội Việt kiều thân ái.
Trong buổi họp mặt đầu tiên với kiều bào, Nguyễn Ái Quốc tự giới thiệu là Thọ , biệt hiệu Nam Sơn . Những ngày sau đó Người đã nhanh chóng sống hoà mình với kiều bào, làm việc cùng mọi người. Buổi tối Người tổ chức nói chuyện cho kiều bào nghe về tình hình thế giới, tình hình trong nước.
Nguyễn Ái Quốc lưu lại ở Bản Đông khoảng hai tuần.
51. Chín (Thầu Chín) 17 - 1928
Nguyễn Ái Quốc hoạt động tuyên truyền trong Việt kiều ở Thái Lan. Người thường di chuyển từ vùng này sang vùng khác. Khoảng đầu tháng 8-1928, Nguyễn Ái Quốc đến Uđon (Thái Lan). Người lấy tên là Chín. Mọi người tôn trọng gọi là "Thầu Chín” (ông già Chín).
Mục đích chính của Người trong thời gian hoạt động ở đây là xây dựng cơ sở, mở rộng tổ chức, từ đó tuyên truyền và gây ảnh hưởng về trong nước: "Trước kia ở Trung Quốc, ông Nguyễn từ phương Bắc tuyên truyền về nước. Bây giờ ở Xiêm, ông Nguyễn tuyên truyền về nước từ phương Tây" 18 .
52. Víchto Lơbông (Victor Lebon) – 1930
Ngày 27-2-1930, Nguyễn Ái Quốc gửi thư cho đại diện Đảng Cộng sản Pháp tại Quốc tế Cộng sản thông báo về việc Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, yêu cầu được cung cấp tài liệu để tuyên truyền và giáo dục, đồng thời đề nghị Đảng Cộng sản Pháp giúp đỡ v.v.. Người ghi địa chỉ nhận thư của mình là:
Ông Víchto Lơbông, 123 Đại lộ Cộng hoà, Pari, Pháp (M.Victor lebon, 123 av. de la République, Pari, France).
53. Ông Lý – 1930
Ông Lý, Hương Cảng tiểu dạ báo, 53 phố Uyhêm, Hồng Kông (nguyên văn: Mr. Lee, The Hongkong Shiao Fih Pao, 53, Wyndham Str.Hongkong) là địa chỉ Nguyễn Ái Quốc ghi để nhận sách báo gửi cho Người.
Địa chỉ này được ghi ở cuối thư Nguyễn Ái Quốc gửi Văn phòng đại diện Đảng Cộng sản Mỹ, ngày 27-2-1930 và trong một số thư khác.
54. Ng. Ái Quốc – 1930
55. L.M. Vang 19 – 1930
Ngày 27-2-1930, Nguyễn Ái Quốc gửi Thư cho Văn phòng đại diện Đảng Cộng sản Đức ở Quốc tế Cộng sản đề nghị xin cho Người một giấy chứng nhận là phóng viên báo Thế giới . Thư ký tên Ng . Ái Quốc . Trong thư Người viết: "Trong hoàn cảnh tôi sống không hợp pháp, tôi cần có một nghề để nói với người khác. Tôi đóng vai phóng viên báo chí. Nhưng cần phải chứng thực được danh nghĩa đó của tôi. Trong số tất cả các báo của các đảng chúng ta, tôi thấy chỉ có mỗi một tờ báo không mang cái tên "có tính chất lật đổ” và có thể cấp cho tôi một giấy chứng nhận thuận tiện, đó là báo Thế giới .
Tôi đề nghị các đồng chí xin cho tôi một giấy chứng nhận là phóng viên báo Thế giới . Tên của tôi sẽ là L.M. Wang .
56. Tiết Nguyệt Lâm – 1930
Cũng trong thư gửi Văn phòng đại diện Đảng Cộng sản Đức về việc xin giấy chứng nhận là phóng viên báo Die Weet (Thế giới), Nguyễn Ái Quốc ghi địa chỉ để gửi giấy chứng nhận cho Người là: Ông Tiết Nguyệt Lâm, Hoa phong công ty, số nhà 136, đường Wanchai, Hồng Kông (Mr. Sit. Yet. Lum, Wah - Fon C o , 136 Vanchai, R d ., Hongkong). Có 2 thư Người ghi địa chỉ liên lạc như trên.
57. Pôn (Paul) – 1930
Ngày 27-2-1930, Nguyễn Ái Quốc viết Thư gửi đồng chí Sôta liên đoàn chống đế quốc Béclin, thông báo về việc Đảng Cộng sản Việt Nam đã được thành lập. Thư ký tên Pôn (Paul). Người còn ký tên Pôn trong một số thư khác.
58. T.V. Wang – 1930
Ngày 2-3-1930, Nguyễn Ái Quốc viết Thư gửi Ban Phương Đông Quốc tế cộng sản 20 báo cáo về tình hình Mã Lai, Đông Dương và về việc gửi 3 học sinh đi học, cuối thư Người đề nghị "Có thể mua hối phiếu của Công ty xe lửa tốc hành Mỹ đề tên T.V. Wang và gửi bưu điện cho tôi".
59. Công Nhân – 1930
Nguyễn Ái Quốc dùng bút danh Công Nhân năm 1930. Người viết bài Làm sao để thu phục quần chúng? đăng trên báo Vô sản , cơ quan của Đảng Cộng sản Pháp (S. F. I. C.), số 1, ngày 31-8-1930.
60. Vícto – 1930
Nguyễn Ái Quốc ký bí danh Vícto trong bức thư đề ngày 29-9-1930 gửi Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản báo cáo về cuộc đấu tranh từ ngày 11 đến ngày 17-9-1930 của nông dân Thanh Chương, Hưng Nguyên, Nghệ An; các huyện Can Lộc, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh, Hà Tĩnh; Gia Định, Chợ Lớn, Tân An ở Nam Kỳ và đề nghị Quốc tế Cộng sản giúp đỡ các nạn nhân của cuộc đàn áp đẫm máu.
Có năm bức thư và bài ký bí danh Vícto trong đó có bốn bài và bức thư sau đây lần đầu tiên được in trong Hồ Chí Minh toàn tập :
Bài Phong trào cách mạng ở Đông Dương , viết ngày 24-1-1931.
Thư gửi Ban phương Đông , ngày 12-2-1931.
Thư gửi Ban phương Đông , ngày 14-2-1931.
Thư gửi Quốc tế Cộng sản , năm 1931.
Các bài và thư trên đều viết về tình hình cách mạng Việt Nam đầu năm 1931. Trong đó có những bức thư báo cáo, trao đổi tình hình dưới dạng mật mã, chúng ta phải nghiên cứu thêm.
61. V – 1931
Bí danh của Nguyễn Ái Quốc viết Báo cáo gửi Ban Phương Đông , ngày 8-2- 1931. Trong báo cáo, Người cho biết những tin tức về cuộc đấu tranh ở Việt Nam, những chỉ thị về việc tổ chức Đảng Cộng sản Đông Dương.
Ngày 19-2-1931, với bí danh V , Nguyễn Ái Quốc viết bài Nghệ Tĩnh đỏ và bài Khủng bố trắng ở Đông Dương . Hai bài viết về phong trào cách mạng của nhân dân Nghệ Tĩnh cuối năm 1930 đầu năm 1931 và sự khủng bố của thực dân Pháp đối với những người tham gia cách mạng.
62. K 21 – 1931
Nguyễn Ái Quốc viết Thư gửi Ban Phương Đông , thư đề ngày 21-2-1931, ký tên K. Trong thư Người báo tin Lý Tự Trọng bắn chết tên mật thám Lơ Grăng và đã bị bắt. Người đề nghị Ban Phương Đông liên lạc với Đảng Cộng sản Pháp tổ chức biểu tình đòi thả Lý Tự Trọng.
Người còn đề nghị Quốc tế Cộng sản, Quốc tế Công hội đỏ lên tiếng đoàn kết với cuộc đấu tranh của nhân dân Đông Dương.
63. Đông Dương – 1931
Nguyễn Ái Quốc ký bút danh Đông Dương dưới bài viết Kỷ niệm một năm khởi nghĩa Yên Bái , đăng trên tạp chí Thư tín quốc tế , số 12. năm 1931.
64. Quac. E. Wen – 1931
Ngày 5-3-1931, với bút danh Quac. E. Wen , Nguyễn Ái Quốc viết bài Uy quyền của đế quốc Pháp ở Đông Dương gửi quốc tế Cộng sản. Người tố cáo sự khủng bố dã man của đế quốc Pháp đối với nhân dân Đông Dương, ca ngợi tinh thần đấu tranh của nhân dân và khẳng định tinh thần đó sẽ đưa Cách mạng đến thành công.
65. K.V -1931
Nguyễn Ái Quốc dùng bí danh K.V từ năm 1931. Bí danh này được nhắc đến trong Thư gửi Ban Chấp hình Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (đầu thư đề ngày 23-4 cuối thư đề ngày 24-4).
Trong thư, Người thông báo những cán bộ được cử về nước theo đường dây liên lạc, nhắc nhở công tác bảo vệ Đảng, giữ gìn bí mật, duy trì chế độ báo cáo giữa Đảng Cộng sản Đông Dương với Quốc tế Cộng sản và đề nghị Trung ương ghi nhận nhiệm vụ của mình đã được Ban Phương Đông xác định.
Năm 1959, Người ký bút danh K.V trong bài Người cháu nuôi của Bác 22 , đăng trên báo Nhân Dân , ngày 27-12-1959.
66. Lão Trịnh – 1931
Trong báo cáo của cơ quan an ninh Pháp về hoạt động của Nguyễn Ái Quốc thời gian trước khi Người bị bắt ở Hồng Kông (1918-1931) có một đoạn ghi như sau: "Ghi chú về vấn đề người cộng sản An Nam Nguyễn Ái Quốc tức Nguyễn Tất thành, gọi là Lý Thụy, Vương Sơn Nhi, Lão Trịnh, Năm, Lý Phát Viên, Tống Văn Sơ bị bắt ở phố Cửu Long ngày 6-6-1931".
67. Năm – 1931
68. Lý Phát -1931
69. Viên – 1931
70. Tống Văn Sơ -1931
Tống Văn Sơ là tên ghi trong thẻ căn cước của Nguyễn Ái Quốc khi Người bị bắt ở số 186, phố Tam Lung (Cửu Long), Hồng Kông ngày 6-6-1931. Đây là kế hoạch phối hợp giữa bọn mật thám Anh và Pháp lùng bắt những người cách mạng Việt Nam và cán bộ Quốc tế Cộng sản. Một chiến dịch điên cuồng tìm diệt cộng sản được chúng phát động trên quy mô lớn khắp vùng Đông Nam châu Á.
71. New Man – 1933
Bí danh của Nguyễn Ái Quốc ký dưới thư gửi luật sư Lôdơbi.
Luật sư Lôdơbi, người đã có công cứu giúp Tống Văn Sơ ra khỏi nhà tù của đế quốc Anh ở Hương Cảng, kể lại: "Sau khi Tống Văn Sơ đi Hạ Môn tôi không được tin tức gì nữa. Mãi đến sau này tôi mới nhận được hai bức thư của Tống Văn Sơ, ký tên là New Man gửi cho tôi và nói tôi viết thư trả lời. Nhưng tôi sợ bọn cầm quyền lại tìm được địa chỉ của Tống Văn Sơ nên tôi không viết thư trả lời". Sự cẩn thận của luật sư Lôdơbi lại một lần nữa giúp Tống Văn Sơ tránh nguy hiểm, phải khó khăn lắm Tống Văn Sơ mới thoát khỏi sự săn đuổi của mật thám Anh, Pháp.
72. Lin – 1934
Tháng 10-1934, Nguyễn Ái Quốc được nhận vào học Trường Quốc tế Lênin, Liên Xô, năm học 1934-1935. Tên của người trong danh sách sinh viên là Lin , số hiệu 375.
Tháng 8-1935, Người dự Đại hội lần thứ VII của Quốc tế Cộng sản và trong bản lý lịch tham dự Đại hội Người khai: Họ, tên, bí danh: Lin .
Lin còn được ký trong một số bài báo đăng trên báo Notre voix (Tiếng nói của chúng ta) 23 , v.v..
73. Linốp – 1934
Linốp là tên khai trong bản khai lý lịch học ở Trường Quốc tế Lênin, Liên Xô, tháng 9-1934.
74. Teng Man Huon 24 – 1935
Tháng 8-1935, Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản. Trong bản khai để tham dự Đại hội, ngày 16-8-1935, Người ghi:
Họ, tên, bí danh trong Đảng hiện nay: Teng Man Huon.
Họ tên bí danh trong Đại hội: Lin.
Ban tổ chức Đại hội trao cho Người tấm thẻ đại biểu tư vấn của Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản. Tấm thẻ mang số 154, ghi tên:
“Lin, thuộc Đảng Cộng sản Đông Dương".
75. Hồ Quang – 1938
Bí danh của Nguyễn Ái Quốc khi người hoạt động ở Trung Quốc từ cuối năm 1938.
Nhờ mối liên hệ giữa Đảng Cộng sản Liên Xô và Đảng Cộng sản Trung Quốc, mùa thu năm 1938, từ Mátxcơva, Người đi Trung Quốc. Tại Lan Châu, thủ phủ tỉnh Cam Túc (Tây Bắc Trung Quốc), văn phòng Giải phóng quân đã chuẩn bị cho Người quân phục, phù hiệu Bát lộ quân, quân hàm thiếu tá và giấy tờ mang tên Hồ Quang.
76. P.C Lin (P.C Line) – 1938
Cuối năm 1938 và trong năm 1939, từ Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc viết hàng chục bài báo gửi về nước, đăng trên tuần báo Notre voix (Tiếng nói của chúng ta).
Trong các bài báo ấy Người thường ghi Thư từ Trung Quốc và ký tên P.C Lin, P.C Line , Line (đều là của đồng chí Lin).
Bài báo đầu tiên Người ký bút danh P.C Lin là bài Người Nhật Bản muốn khai hoá Trung Quốc như thế nào (viết tháng 12-1938) đăng báo Notre voix , ngày 12-2 và ngày 5-3-1939. Dưới danh nghĩa một nhà báo Trung Quốc, Người đã phân tích khoa học tình hình đang diễn ra ở Trung Quốc, tố cáo tội ác của phátxít Nhật, nêu cao tinh thần cách mạng của nhân dân Trung Quốc đang chiến đấu cho độc lập dân tộc và dự báo về những gì phátxít Nhật làm ở Trung Quốc rất có thể chúng sẽ tiến hành ở các nước khác. Kinh nghiệm của nhân dân Trung Quốc sẽ giúp nhân dân Việt Nam nâng cao cảnh giác đấu tranh chống chủ nghĩa phátxít, bảo vệ hoà bình.
77. D.C Lin – 1939
Là bút danh Chủ tịch Hồ Chí Minh ký dưới bài báo Những sự hung tàn của đế quốc Nhật 25 , đăng trên báo Dân Chúng 26 , cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Đông Dương xuất bản ở Sài Gòn. Báo đăng liền ba số: số 46 (ngày 21-1-1939), số 47 (ngày 24-1-1939) và số 48 (ngày 28-1-1939); tố cáo tội ác dã man của đế quốc Nhật đã làm ở Trung Quốc, chúng sẽ tiến hành tại các nước khác ở châu Á nếu chúng thắng được nhân dân Trung Quốc.
78. Lâm Tam Xuyên – 1939
Từ Quế Lâm (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc viết thư (bằng tiếng Pháp) gửi một đồng chí ở Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản, thư đề ngày 20-4-1939.
Cuối thư, sau dòng địa chỉ bằng tiếng Pháp là dòng chữ Hán viết tay:
Quảng Tây, Quế Lâm, Quế Tây lộ tam thập ngũ hiệu Tân Hoa, nhật báo chuyển giao Lâm Tam Xuyên tiên sinh (Tân Hoa nhật báo, số nhà 35, đường Quế Lâm, Quế Tây, Quảng Tây, chuyển cho ông Lâm Tam Xuyên).
79. Ông Trần – 1940
Cuối tháng 2-1940, Nguyễn Ái Quốc với bí danh Ông Trần đến hiệu dầu cù là Vĩnh An Đường ở Côn Minh, Vân Nam, Trung Quốc để bắt liên lạc với tổ chức của Đảng ta ở Vân Nam, từ đó tìm dường trở về nước.
80. Bình Sơn – 1940
Trong thời gian từ ngày 15-11 đến ngày 18-12-1940, với bút danh Bình Sơn , Nguyễn Ái Quốc viết mười bài đăng trên Cứu vong nhật báo 27 , Trung Quốc. Bài đầu tiên là “Ôông - Trôi - Co – Mat” đăng ngày 15-11-1940. Các bài viết đều tập trung lên án chiến tranh của đế quốc Pháp, Nhật, Đức, Italia, vạch trần âm mưu, thủ đoạn của bọn đế quốc nhằm gây chia rẽ các nước, mưu toan ly gián tình cảm hai nước Trung - Việt, kêu gọi sự đoàn kết giữa nhân dân hai nước Việt Nam và Trung Quốc, bày tỏ sự đồng tình, giúp đỡ các dân tộc nhỏ yếu giành độc lập.
81. Đi Đông (Dis-done)
Là tên một số người bạn nước ngoài gọi Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Tên gọi này được Người kể trong bài báo Đồng chí Đi Đông đăng trên báo Cứu quốc ngày 3-l0-1951: "Năm xưa Hồ Chủ tịch hoạt động ở Trung Quốc, quen biết nhiều người cách mạng Trung Hoa học ở Pháp về. Họ không phải như các cô chiêu, cậu tú ta, mang tiền sang Pháp du học. Họ vừa làm công, vừa học. Trong đó có những người như bà Thái Xương, nay là Chủ tịch Hội phụ nữ Trung Quốc, Thủ tướng Chu Ân Lai, ông Nhiếp Vinh Trăn, Tổng tham mưu trưởng Quân Giải phóng v.v.. Mỗi khi nói chuyện tiếng Pháp với Cụ, các bạn ấy thường gọi "Đi Đông!”, nghĩa là "Này đồng chí (Dis-done!).
Những bạn khác không biết tiếng Pháp, tưởng "Đi Đông) là bí danh của Cụ, cho nên họ gọi Cụ là đồng chí “Đi Đông”.
82. Cúng Sáu Sán -1941
Ngày 28-1-1941, Nguyễn Ái Quốc về nước hoạt động ở vùng Pác Bó, Cao Bằng. Đồng bào địa phương không biết rõ về Người nên một số dân bản thường gọi Người là Cúng Sáu Sán , có nghĩa là ông già ở rừng.
83. Già Thu – 1941
Trong thời gian hoạt động ở Pác Bó, Cao Bằng, các cán bộ địa phương thường gọi Nguyễn Ái Quốc là Già Thu.
84. Kim Oanh – 1941
Bút danh của Nguyễn Ái Quốc ký dưới bài thơ Phụ nữ đăng nên báo Việt Nam độc lập 28 , số 104, ngày 1-9-1941. Sau khi nêu những tấm gương anh hùng của phụ nữ Việt Nam từ Bà Trưng, Bà Triệu đến Nguyễn Thị Minh Khai, Người kêu gọi chị em phụ nữ Việt Nam cần đoàn kết lại để đấu tranh.
85. Bé Con – 1941
Bút danh của Nguyễn Ái Quốc ký dưới bài thơ Trẻ con đăng trên báo Việt Nam độc lập , số 106, ngày 21-9-1941. Bài thơ tả về cuộc sống cơ cực của thiếu nhi Việt Nam dưới ách Nhật, Tây. Người kêu gọi các em cần đoàn kết lại để góp sức đấu tranh.
86. Ông Cụ - 1941
Trong những năm 1940-1945, các đồng chí hoạt động cách mạng và đồng bào ở vùng biên giới Trung - Việt thường dùng gọi Bác.
87. Hoàng Quốc Tuấn – 1941
Hoàng Quốc Tuấn là tên của Nguyễn Ái Quốc được các đồng chí trong tổ chức Việt Nam dân tộc giải phóng liên hiệp hội tự đặt, với danh nghĩa là lãnh tụ Việt Minh.
Trong lý lịch của một số thanh niên Cao Bằng được chọn đi học lớp vô tuyến điện ở Liễu Châu, Trung Quốc, các học viên đều thống nhất ghi lãnh tụ là Hoàng Quốc Tuấn.
88. Bác – 1941
Tên gọi "Bác" xuất hiện từ thời gian diễn ra Hội nghị trung ương lần thứ tám, tháng 5-1941 ở Hà Quảng, Pác Bó, Cao Bằng. Dịp đó đại biểu về dự Hội nghị được biết có đại biểu quốc tế là đồng chí Nguyễn Ái Quốc cũng có mặt. Lúc đầu, khi gặp đồng chí Nguyễn Ái Quốc mọi người không biết xưng hô thế nào. Hồi ký của đồng chí Hoàng Quốc Việt kể rằng: Mới đầu chúng tôi đều gọi Bác là đồng chí, rồi gọi là Cụ, sau thấy anh Trường Chinh và anh Thụ dùng tiếng “Bác", anh em thấy gọi như thế hợp với lòng mình, nên từ đấy chúng tôi bắt đầu thưa với Bác bằng cái tên thân yêu mà bây giờ tất cả chúng ta đều gọi. Tiếng "Bác" được dùng rộng rãi hơn từ sau năm 1945.
Sau này tên gọi Bác còn được ký dưới một số thư gửi các đồng chí Trung ương và Bộ Chính trị.
89. Thu Sơn – 1942
Tháng 1-1942, với bí danh Thu Sơn , Nguyễn Ái Quốc chuyển đến ở nhà đồng chí Xích Thắng (tức Dương Mạc Thạch) tại châu Nguyên Bình, Cao Bằng trong một số ngày.
90. Xung Phong – 1942
Bút danh của Nguyễn Ái Quốc ký dưới hai bài thơ Tặng Thống chế Pêtanh 29 và bài Nhóm lửa đăng trên báo Việt Nam độc lập , số 131, ngày 11-7-1942 và số 133, ngày 1-8-1942.
91. Hồ Chí Minh – 1942
Đầu những năm 1940, trước biến chuyển mới của tình hình cách mạng, một nhiệm vụ bức thiết đặt ra cho cách mạng nước ta lúc này là phải thực hiện sự liên minh quốc tế, tranh thủ sự giúp đỡ của đồng minh. Trước mắt phải phối hợp hành động giữa phong trào Việt Minh với phong trào chống Nhật của nhân dân Trung Quốc và các lực lượng đồng minh chống phátxít trên chiến trường Thái Bình Dương. Trong số những người cách mạng Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc là người hiểu biết Trung Quốc hơn cả nên được cử đảm nhiệm trọng trách này.
Để đánh lạc hướng bọn mật thám, Nguyễn Ái Quốc lấy tên mới là Hồ Chí Minh . Ngày 13-8-1942, Người lên đường đi Trung Quốc với tư cách là đại biểu của phong trào Việt Minh và đại diện của phân hội Việt Nam thuộc Hiệp hội quốc tế phản xâm lược.
Sau 15 ngày đêm đi bộ trên đất Quảng Tây, ngày 27-8-1942, Người đến xã Túc Vinh thuộc huyện Đức Bảo thì bị tuần canh ở đây giữ lại. Khi kiểm tra giấy tờ, chúng phát hiện ngoài giấy giới thiệu của Phân hội Việt Nam thuộc Hiệp hội quốc tế phản xâm lược ra, Hồ Chí Minh còn mang theo thẻ hội viên "Hội ký giả thanh niên Trung Quốc", các giấy tờ của Hồ Chí Minh là phóng viên báo chí và giấy thông hành do văn phòng Bộ tư lệnh Đệ tứ chiến khu cấp từ năm 1940 đều đã quá hạn sử dụng. Chúng nghi Người là gián điệp, bèn bắt giữ và giải lên Tĩnh Tây rồi giải đi, giải lại trong suốt 13 huyện thị của tỉnh Quảng Tây.
Nhờ sự vận động tích cực của Đảng ta, của bà con Việt kiều và sự can thiệp của nhiều nhân vật trong chính giới Trung Quốc, ngày 10-9-1943 Người được trả lại tự do.
Như vậy, trong sự kiện bị bắt khi lính tuần canh kiểm tra giấy tờ ở xã Túc Vinh đã hé mở một chi tiết: Phải chăng trong số những giấy tờ bị quá hạn từ cuối năm 1940, chặng đường Nguyễn Ái Quốc đi từ Côn Minh - Quế Lâm - Tĩnh Tây để tìm đường về nước, Người đã lấy tên là Hồ Chí Minh? Và tới năm 1942, từ sự kiện "Túc Vinh", tên gọi Hồ Chí Minh đã được ra công khai.
Nhớ lại sự kiện chuẩn bị cho Bác đi Trung Quốc, hồi ký của đồng chí Vũ Anh kể lại: "Tháng 8 năm 1942, Bác có việc phải đi ra nước ngoài. Tôi được Bác giao nhiệm vụ chuẩn bị giúp Bác. Gọi là chuẩn bị, nhưng công việc cũng chẳng có gì. Trong túi của Bác chỉ có một bộ quần áo tây và một bộ quần áo chàm người Nùng. Tôi lấy đá mềm khắc hai con dấu. Một con dấu của Việt Nam độc lập Đồng minh hội và một của Quốc tế phản xâm lược Việt Nam phân hội. Bác tự viết hai giấy giới thiệu của hai đoàn thể trên cử Cụ Hồ Chí Minh đi gặp Chính phủ Trung Quốc. Mục đích chính của Bác là qua gặp Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Cái tên Cụ Hồ Chí Minh ra công khai từ đó. Và cũng từ đó tên của Người ngày càng làm rạng rỡ Đảng ta, nhân dân ta, đất nước ta. Lúc bấy giờ Bác có một danh thiếp đề tên Hồ Chí Minh” 30 .
Sau khi ra tù, lần đầu tiên trên báo Đồng minh 31 , số 18, tháng 12-1943, phát hành ở Liễu Châu, Trung Quốc, người đọc thấy xuất hiện tên Hồ Chí Minh ký dưới bài viết: Li Băng .
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khi đất nước giành được độc lập, Hồ Chí Minh trở thành Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Từ đó đến nay và mãi tới muôn đời sau, tên Người sẽ còn sống mãi trong lòng dân Việt Nam và trong trái tim nhân loại.
92. Hy Sinh – 1942
Nguyễn Ái Quốc ký bút danh Hy sinh dưới bài thơ Chơi giăng đăng trên báo Việt Nam độc lập , số 135, ngày 21-8-1945 32 khuyên mọi người đồng lòng, đoàn kết, chú ý tổ chức tuyên truyền sâu rộng đó là yếu tố đưa cách mạng đến thành công.
93. Cụ Hoàng – 1945
Cuối tháng 2-1945, Bác đi Côn Minh với ý định gặp các cơ quan của Mỹ để tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của đồng minh chống phátxít đối với cách mạng Việt Nam. Khi đến Bixichai, vào nhà một Việt kiều là cơ sở của ta, Người được giới thiệu là "Cụ Hoàng”, đó cũng là tên công khai của Bác trên giấy tờ khi đi giao thiệp.
94. C.M Hồ - 1945
Hồ Chí Minh ký tên C.M Hồ dưới Thư gửi ông Phen 33 , ông Tam vào tháng 7 và tháng 8-1945, nói về tình hình chiến tranh đã kết thúc, Người cho biết nhân dân Việt Nam sẽ tiếp tục chiến đấu để giành độc lập dân tộc và mong được nhân dân Mỹ luôn ủng hộ.
95. Chiến Thắng – 1945
Bút danh Chiến Thắng được Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng sau những ngày đầu đất nước tuyên bố độc lập .
Trong không khí của những ngày chiến thắng, Người viết tám bài đăng trên báo Cứu quốc 34 , tháng 9 và tháng 10-1945. Bài đầu tiên mang tính thời sự, cấp bách lúc đó là Cách tổ chức các uỷ ban nhân dân đăng trên báo Cứu quốc , số 40, ngày 11-9-1945. Các bài phần lớn tập trung vào vấn đề tổ chức các uỷ ban nhân dân, phương pháp làm việc trong giai đoạn xây dựng chính quyền mới, căn dặn cán bộ phải công tâm, là công bộc của dân “việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”, “phải đặt quyền lợi của dân trên hết thảy, phải có tinh thần chí công vô tư" và phải tránh những hủ tục xấu do chế độ cũ để lại.
96. Ông Ké 35 – 1945
Chiều một ngày cuối tháng 4-1945, Nguyễn Ái Quốc trong bộ áo chàm người Nùng đến chiếc lán ở hang Pác Tẻng (chân núi đá Lam Sơn, Cao Bằng) của gia đình đồng chí Hoàng Đức Triều (An Định). Người được giới thiệu với gia đình là “đồng chí Ông Ké" . Với bí danh Ông Ké , Người thường họp với các đồng chí Hoàng Quốc Việt, Vũ Anh, Phạm Văn Đồng, Đặng Việt Châu, Dương Đức Hiền, ĐặngVăn Cáp.
Hồi ký của đồng chí Hoàng Đức Triều kể rằng: "Chiều về lán ăn cơm, các đồng chí còn tranh luận nhau nhiều vấn đề nghe ra như chuẩn bị khởi nghĩa. Có buổi về, các đồng chí còn lấy mảnh vải ra đo đạc với nhau và bàn về tỷ lệ chiều dài, chiều rộng của lá cờ đỏ sao vàng năm cánh”.
97. Hồ Chủ tịch – 1945
Tên gọi Hồ Chủ tịch xuất hiện từ khi Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời tháng 9-1945 và được dùng cho đến những năm sau này.
98. Hồ - 1945
Hồ Chí Minh ký tên Hồ dưới các Thư gửi ông Bécna và ông Phen đề ngày 9-5-1945 và 9-6-1945, cảm ơn về sự giúp đỡ các học viên lớp vô tuyến điện, nhờ ông Phen liên lạc chuyển giúp gói quà có lá cờ của đồng minh đến cho Người bằng cách nhanh nhất.
Ngoài ra, Người còn ký dưới những thư gửi các ông Phạm Văn Bạch và Nguyễn Văn Tây, Vũ Đình Huỳnh, Cù Huy Cận, Hồ Đức Thành dặn về công việc.
99. Q.T – 1945
Với bút danh Q.T , Chủ tịch Hồ Chí Minh viết 10 bài đăng trên báo Cứu quốc trong các năm 1945-1946. Bài đầu tiên Người ký bút danh Q.T là bài Toàn dân kháng chiến đăng trên báo Cứu quốc , số 83, ngày 5-11-1945. Các bài phần lớn đều tập trung nói về vấn đề kháng chiến, động viên tinh thần kháng chiến của toàn dân.
100. Q.Th – 1945
Với bút danh Q.Th , Chủ tịch Hồ Chí Minh viết 14 bài đăng trên báo Cứu quốc trong các năm 1945-1946.
Bài đầu tiên Người ký bút danh Q.Th là bài Thế giới với Việt Nam , đăng báo Cứu quốc , số 130, ngày 31-12-1945. Các bài báo tập trung, có tính hướng dẫn về Binh pháp Tôn Tử gồm phương pháp tác chiến, kế hoạch tác chiến, cách dùng người, kế hư thực v.v. của chiến tranh. Ngoài ra, các bài khác còn đề cập tới thái độ của các nước ủng hộ nền độc lập của nước ta, các hình thức chiến tranh ngày nay, đồng thời Người còn sớm đề cập vấn đề xây dựng hợp tác xã ở nông thôn.
101. Lucius – 1945
Tên mật do tổ chức OSS (Cơ quan nghiên cứu chiến lược Mỹ) đặt cho Hồ Chí Minh.
Tháng 8-1945, Sáclơ Phen - một nhân viên của OSS, lấy bí danh là "Ham Lét" và đặt mật danh cho Cụ Hồ là “Lucius” tên vị Hoàng đế La Mã chiến thắng trong vở bi kịch Shakespear là Titus Andronicus. Được biết Người đã dùng mật danh “Lucius” để điện cho "Ham Lét".
102. Bác Hồ 36 - 1946
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, hai tiếng Bác Hồ trở nên gần gũi, thiêng liêng đối với mỗi người dân Việt Nam. Trong một số thư gửi cho các cháu thanh thiếu niên nhi đồng, học sinh... Người thường ký hai chữ Bác Hồ . Thư đầu tiên ký tên Bác Hồ là Thư gửi Ban âm nhạc Vệ quốc quân , ngày 6-1-1946.
Thư cuối cùng gửi các cháu thiếu niên ký tên Bác Hồ là Thư gửi các cháu thiếu niên hợp tác xã măng non thôn Phú Mẫn, xã Hàm Sơn, huyện Yên Phong, tỉnh Hà Bắc ngày 19-5-1969.
Thư cuối cùng gửi các địa phương ký tên Bác Hồ là: Thư gửi Ban Chấp hành Đảng bộ Đảng Lao động Việt Nam tỉnh Nghệ An, ngày 21-7-1969.
103. H.C.M – 1946
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký H.C.M trong Bức thư gửi đồng chí Môrixơ Tôrê , Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Pháp năm 1946. Người còn ký trong những bức điện gửi trên đường từ Pháp về nước năm 1946.
Trong thư gửi các tù binh Pháp đang bị giam giữ tại Việt Nam nhân lễ Nôen năm 1950, ngày 24-12-1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký tên H.C.M.
Người ký H.C.M trong bài Nhân dịp kỷ niệm 30 năm ngày Quốc tế phụ nữ, ngày 8-3-1960.
104. Đ.H – 1946
Bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tập Nhật ký hành trình của Chủ tịch Hồ Chí Minh bốn tháng sang Pháp 37 , năm 1946.
Đây là bài viết về hành trình và hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời gian sang thăm nước Pháp với tư cách là thượng khách từ ngày 31-5-1946 đến ngày 20-10-1946.
105. Xuân - 1946
Trên đường di chuyển từ Hà Nội qua Sơn Tây, Phú Thọ để trở lại chiến khu Việt Bắc trong những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nghỉ lại ở nhà ông Hoàng Văn Nguyên ở xóm Đồi, xã Cổ Tiết, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ từ ngày 4-3-1947 đến ngày 18-3-1947.
Thời gian ở Cổ Tiết, Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng bí danh là Xuân trong các giấy tờ giao dịch.
106. Một người Việt Nam – 1946
Là tên đề dưới bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh Hoa Việt thân thiện 38 , viết tháng 12-1946. Nhân các báo Pháp đưa tin Bộ Ngoại giao Trung Quốc chỉ công nhận chủ quyền của người Pháp là duy nhất ở nước Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài bác lại tin tên.
107. Tân Sinh – 1947
Bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết một số tác phẩm trong các năm 1947-1948.
Tác phẩm đầu tiên Người ký bút danh Tân Sinh là tác phẩm Đời sống mới do Ủy ban Trung ương vận động Đời sống mới xuất bản năm 1947.
Đây là tài liệu hướng dẫn và tuyên truyền cuộc vận động xây dựng đời sống mới.
Dưới hình thức hỏi và đáp, cuốn sách giới thiệu một cách vắn tắt, rõ ràng, thiết thực, dễ hiểu những nội dung của đời sống mới và nêu những yêu cầu cụ thể đối với mỗi người, mỗi gia đình, từng giới, từng ngành đối với việc xây dựng đời sống mới. Tác giả viết: "Nêu cao và thực hành Cần, Kiệm, Liêm, Chính tức là nhen lửa cho đời sống mới”.
Cũng với bút danh Tân Sinh , Chủ tịch Hồ Chí Minh viết cuốn sách Việt Bắc anh dũng vào cuối năm 1947 đầu năm 1948. Sách do Tổng bộ Việt Minh xuất bản lần đầu tiên năm 1948.
108. Anh – 1947
Ngày 20-8-1947, Bác gửi thư cho ông Nguyễn Khánh Toàn hỏi thăm tình hình sức khoẻ. Cuối thư Người ký chữ Anh. Hiện nay mới chỉ thấy đây là bức thư duy nhất Bác ký chữ Anh .
109. X.Y.Z – 1947
Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng bút danh X.Y.Z từ năm 1947 đến năm 1950. Người viết hơn một chục bài báo và một số tác phẩm quan trọng, trong đó có tác phẩm Sửa đổi lối làm việc viết xong tháng 10-1947. Nhà xuất bản Sự thật xuất bản lần đầu tiên năm 1948.
Sửa đổi lối làm việc là tác phẩm quan trọng về xây dựng Đảng, một tài liệu học tập bổ ích, thiết thực của cán bộ để tu dưỡng về tư tưởng, đạo đức và phong cách công tác. Sửa đổi lối làm việc đã thể hiện nội dung cơ bản của tư tưởng đạo đức, phương pháp và phong cách của Hồ Chí Minh, đó là một văn kiện vô giá, có đóng góp to lớn vào việc giáo dục, rèn luyện cán bộ trở thành người cách mạng trung thành với sự nghiệp của Đảng và của nhân dân.
Cũng với bút danh này, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết một số bài báo đăng trên báo Sự thật 39 năm 1948, 1949 và 1950. Trong số những bài báo đó có bài Dân vận đăng trên báo Sự thật , số 120, ngày 15-10-1949.
Dân vận theo tư tưởng của Người:
"Bao nhiêu lợi ích đều vì dân .
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân .
Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân.
Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân.
Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra.
Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên.
Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân".
"Lực lượng của dân rất to. Việc dân vận rất quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”.
Với bút danh X.Y.Z , Chủ tịch Hồ Chí Minh còn lược dịch cuốn Tuyên ngôn Đảng Cộng sản , tủ sách mácxít, được Nhà xuất bản Sự thật xuất bản năm 1949.
110. A – 1947
Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng mật danh A năm 1947 trong các bức thư gửi đồng chí Hoàng Hữu Nam, Thứ trưởng Bộ Nội vụ lúc đó. Mật danh A. còn được nhắc đến trong cuốn Nhật ký của một bộ trưởng (Nhật ký của ông Lê Văn Hiến, khi đó là Bộ trưởng Bộ Tài chính).
111. A.G -1947
Bút danh Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng trong những năm 1947, 1948, 1949 và 1950.
Với bút danh A.G , Chủ tịch Hồ Chí Minh viết một số bài báo cho chuyên mục Công tác thiết thực của báo Sự thật.
Bài đầu tiên là Cán bộ tốt và cán bộ xoàng đăng trên báo Sự thật , số 77, ngày 1 đến ngày 15-6-1947. Người căn dặn: "cán bộ mà biết làm cho dân tin, dân phục, dân yêu thì việc gì cũng mỹ mãn”.
Với bút danh A.G, Người viết bài báo Bệnh máy móc đăng trên báo Sự thật , số 126, ngày 6-1-1950. Bài báo nêu những ví dụ cụ thể, phân tích nguyên nhân và tác hại của bệnh máy móc và kết luận:
“... bất kỳ việc to việc nhỏ:
Phải xem xét kỹ lưỡng,
Phải bàn bạc kỹ lưỡng,
Phải hỏi dân kỹ lưỡng,
Phải giải thích kỹ lưỡng cho dân,
Phải luôn luôn gần gũi dân".
112. Z – 1947
Theo cuốn Nhật ký của một bộ trưởng 40 (Nhật ký của ông Lê Văn Hiến, khi đó là Bộ trưởng Bộ Tài chính), mật danh Z. được Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng trong năm 1947.
113. Lê Quyết Thắng – 1948
Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng bút danh Lê Quyết Thắng trong năm 1948 và 1949.
Với bút danh Lê Quyết Thắng , Chủ tịch Hồ Chí Minh viết cuốn sách Một đoạn lịch sử Việt Nam từ năm 1847 đến 1947 . Sách do Việt Bắc xuất bản.
Đây là tác phẩm trình bày những sự kiện lịch sử chủ yếu trong 100 năm, kể từ khi thực dân Pháp bắt đầu thực hiện âm mưu xâm lược Việt Nam năm 1847 đến khi Pháp đánh lên Việt Bắc năm 1947.
Cũng với bút danh Lê Quyết Thắng, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm Cần kiệm liêm chính . Trước khi in thành sách, tác phẩm này được đăng trên báo Cứu quốc , số ra các ngày 30, 31-5 và ngày 1, 2-6-1949. Khi đọc tác phẩm này, chúng ta luôn nhớ lời dạy của Người về những đức tính không thể thiếu của mỗi người, cũng như trời có bốn mùa, đất có bốn phương:
“Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông.
Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc.
Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính.
Thiếu một mùa, thì không thành trời.
Thiếu một phương, thì không thành đất.
Thiếu một đức, thì không thành người”.
114. K.T – 1948
Tháng 2-1948, với bút danh K.T , Chủ tịch Hồ Chí Minh dịch hai bài thơ chữ hán, một bài là của Người gửi cụ Bùi Bằng Đoàn và một bài của cụ Bùi họa lại bài thơ của Người 41 . Bài thơ của Người được dịch như sau:
Trù tính canh chầy, tạm nghỉ ngơi.
Gió mưa thu báo đã thu rồi.
Kèn thu bỗng rậy bên kia núi,
Du kích về rồi, rượu chửa vơi.
Bài thơ của cụ Bùi được Người dịch như sau:
Cuộc luyện quân, không một phút ngơi.
Giãi dầu mưa gió, vẫn đùa vui.
Tướng thêm thao lược, quân thêm mạnh.
Đánh lũ xâm lăng phải chạy dài.
115. K.Đ – 1948
Ngày 2-5-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư gửi đồng chí Hoàng Quốc Việt 42 căn dặn về việc ra báo dịp tháng 5, động viên nhân dân đoàn kết, tăng gia sản xuất thực hành tiết kiệm để kháng chiến mau thắng lợi. Để tuyên truyền, Người làm một bài thơ với danh nghĩa là đội trưởng dân quân du kích Mán, ký tên K.Đ và đề nghị đăng trong số báo này cùng với thơ của các đồng chí Tố Hữu, Xuân Diệu.
116. G – 1949
Bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng trong năm 1949. Người viết bài báo Thêu gấm và cho than 43 đăng trên báo Sự thật , số Xuân Kỷ Sửu, ngày 29-1-1949. Bài viết về hai chuyến đi Mỹ của bà Tống Mỹ Linh, vợ Tưởng Giới Thạch. Một chuyến lúc ông Tưởng có thế lực to lớn, bà đã được người Mỹ đưa lên chín tầng mây, "đã thêu thêm hoa trên bức gấm đã sẵn đẹp"; và một chuyến lúc ông Tưởng đã thất thế, người Mỹ đón bà "không kèn, không trống, không tiếp rước, không hoan nghênh, mà chỉ có lạnh lùng và nhạo báng”... "chẳng ai cho họ một chút than cho đỡ rét”.
Với bút danh G , Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài Bệnh khẩu hiệu đăng trên báo Cứu quốc , số 1191, ngày 15-3-1949.
Bài báo nêu lên tầm quan trọng và vai trò của khẩu hiệu trong công tác tuyên truyền, cổ động, đồng thời phê phán một số địa phương và cán bộ đã mắc “bệnh khẩu hiệu” đưa ra quá nhiều khẩu hiệu không thiết thực, khó hiểu và dài dòng.
117. Trần Thắng Lợi – 1949
Với bút danh Trần Thắng Lợi , Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài Đảng ta đăng trên tập san Sinh hoạt nội bộ 44 , số 13, tháng 1-1949.
Bài báo điểm lại lịch sử phong trào công nhân Việt Nam từ năm 1917 đến việc đồng chí Nguyễn Ái Quốc tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp năm 1920, tổ chức Hội Việt Nam cách mạng thanh niên năm 1925, thống nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam năm 1930, cao trào Xôviết - Nghệ Tĩnh, cao trào kháng Nhật và vũ trang khởi nghĩa giành chính quyền năm 1945.
Bài báo kết luận: "Sứ mệnh của Đảng ta rất to... Không có vinh dự nào to bằng cái vinh hạnh được làm đảng viên của Đảng Cộng sản. Vì vậy,... chúng ta cũng phải kiên quyết làm cho xứng đáng với vinh hạnh ấy”.
118. Trần Lực – 1949
Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng bút danh Trần Lực trong các năm 1949 - 1958 và năm 1961.
Với bút danh Trần Lực , Người viết gần 70 bài báo và một số tác phẩm ngắn.
Tác phẩm đầu tiên Người ký bút danh Trần Lực là Giấc ngủ 10 năm do Tổng bộ Việt Minh xuất bản; Việt Bắc , tháng 4-1949. Đây là một chuyện ngắn mang tính viễn tưởng, mở ra một viễn cảnh tương lai của đất nước.
Tác phẩm Liên Xô vĩ đại , Nhà xuất bản Sự thật xuất bản năm 1957.
Tác phẩm Đạo đức cách mạng ký bút danh Trần Lực đăng trên Tạp chí Học tập 45 tháng 12-1958. Người đã chỉ rõ tầm quan trọng của việc rèn luyện đạo đức cách mạng: "Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”. "Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”.
Bài báo cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh ký bút danh Trần Lực là bài Cần phải chuẩn bị thật chu đáo, sẵn sàng để phòng lụt đăng trên báo Nhân dân , số 2643, ngày 21-6-1961.
119. H.G – 1949
Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng bút danh H.G một lần năm 1949. Người viết bài Trở lại vấn đề thi đua ái quốc , đăng trên báo Cứu quốc , chi nhánh Thủ đô, số l4, ngày 8-7-1949. Bài báo nêu một số vấn đề thi đua ở Thủ đô Hà Nội, mặc dù lúc này đang là vùng địch tạm chiếm.
120. Lê Nhân – 1949
Bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng năm 1949. Người viết bài Thất bại và thành công , đăng trên báo Sự thật , số 117, ngày 19-8-1949. Bài báo viết về công tác cán bộ. Cán bộ được dân tin, dân phục, dân yêu thì việc gì cũng thành công. Bài viết cho chuyên mục Sửa đổi lối làm việc của báo Sự thật.
121. T.T – 1949
Bút danh Chủ tịch Hồ Chí Minh ký dưới bài Hồ Chủ tịch và văn nghệ 46 , viết năm 1949.
Bài viết về việc Chủ tịch Hồ Chí Minh tập làm báo từ những ngày ở Pháp, về nội dung các bài báo, các thể loại sáng tác của Người v.v. với mục đích tuyên truyền cách mạng.
122. Đanh (Din) – 1950
Bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng trong những năm 1950, 1953.
Với bút danh Đanh , "Thư ký Mặt trận Liên Việt (Mặt trận dân tộc thống nhất) địa phương”, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi bài: Nước Việt Nam đấu tranh cho một nền độc lập của mình 47 (bài viết bằng tiếng Pháp) ngày 22-3-1950, cho Tạp chí Vì một nền hòa bình lâu dài, vì một nền dân chủ nhân dân , cơ quan ngôn luận của Cục Thông tin quốc tế (Kominform).
Kèm theo bài báo, Người gửi một bức thư (đánh máy bằng tiếng Pháp) cho Ban biên tập và ký tên Hồ Chí Minh.
Cũng với bút danh Đanh , Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài Chúng tôi vững tin vào thắng lợi cuối cùng của mình đăng trên Tạp chí Vì một nền hòa bình lâu dài, vì một nền dân chủ nhân dân , bản tiếng Pháp, số 250, ngày 21-8-1953.
123. Đinh – 1950
Bí danh Chủ tịch Hồ Chí Minh ký dưới bức thư gửi Thủ tướng nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa Chu Ân Lai và đồng chí Đặng Dĩnh Siêu, tháng 3-1950.
Cũng với bí danh Đinh , Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư gửi tướng Trần Canh (thư bằng chữ Hán) ngày 9-10-1950.
124. T.L – 1950
Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng bút danh T.L trong một thời gian dài, từ năm 1950 đến năm 1969.
Với bút danh T.L , Người viết gần 250 bài báo đăng trên các báo Sự thật, Nhân Dân . Bài đầu tiên Người ký bút danh T.L là bài Quỹ công lương đăng trên báo Sự thật , số 130, ngày 1-4-1950.
Bài cuối cùng Người ký bút danh T.L là bài Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng , đăng trên báo Nhân Dân , ngày 1-6-1969.
Báo Nhân Dân số 5409, ngày 3-2-1969, đăng bài của Chủ tịch Hồ Chí Minh Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân dưới bút danh T.L.
Bài báo biểu dương tinh thần hy sinh, gương mẫu, đạo đức trong sáng của cán bộ, đảng viên, đồng thời kịch liệt lên án những hành vi, tư tưởng cá nhân, hẹp hòi. Người khẳng định: chủ nghĩa cá nhân là nguyên nhân, là bạn đồng hành của những căn bệnh tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa, tham danh, trục lợi... làm hại đến quyền lợi của cách mạng.
Bút danh T.L dùng nhiều nhất trong những năm 1960, 1961 và 1962 trên báo Nhân Dân .
125. Chí Minh – 1950
Ngày 9-11-1950, khi nghe tin người anh là Nguyễn Sinh Khiêm mất, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết một bức điện chia buồn gửi dòng họ Nguyễn Sinh. Cuối bức điện, Người ký tên: Chí Minh.
126. Nguyễn Thao Lược – 1951
Đầu năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài Đẩy mạnh chiến tranh du kích , ký tên Nguyễn Thao Lược . Bài viết nêu: “Nguyên tắc đánh giặc là: biết địch, biết ta, trăm trận trăm thắng", vì "ta biết rõ giặc, giặc không rõ ta. Đi nhẹ không tăm, về lăng không tiếng. Tiến nhanh như gió, thoái kín như đêm. Phục giặc không biết, đánh giặc không ngờ”. Trong vùng địch tạm chiếm, lực lượng to lớn của nhân dân và du kích ta giống như kho thuốc súng trong bụng địch. Ta khéo củng cố và phát triển lực lượng ấy thì giặc Pháp sẽ bị vỡ tung mà chết.
127. B. – 1951
Ngày 9-1-1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện cho đồng chí Võ Nguyên Giáp báo tin Người hoãn đi thăm mặt trận 48 . Bức điện sử dụng bí danh B . Trong thư gửi đồng chí Lê Duẩn ngày 10-3-1968, cuối thư Chủ tịch Hồ Chí Minh ký tên là B . Người còn ký B . trong một số bức thư gửi cho các đồng chí trong Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng vào những năm 1960.
128. C.B – 1951
Bút danh Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng từ năm 1951 đến năm 1957.
Với bút danh C.B . Người viết hơn 700 bài báo đăng trên báo Nhân Dân .
Bài báo đầu tiên Người ký bút danh C.B là bài Phong trào mua công trái , đăng trên báo Nhân Dân , số 1, ngày 11-3-1951.
Bút danh C.B dùng nhiều nhất là năm 1955, 1956, đăng trên báo Nhân Dân trong chuyên mục Nói mà nghe.
Có những số báo Chủ tịch Hồ Chí Minh viết hai bài cùng ký bút danh C.B : Báo Nhân Dân số 2, ngày 25-3-1951 đăng hai bài Phòng gian trừ gian và Người đảng viên Đảng Lao động Việt Nam phải như thế nào? ; báo Nhân Dân số 12, ngày 21-6-1951 đăng hai bài Em bé Triều Tiên và Liên Xô vĩ đại.
129. H – 1951
Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho ông Xuphanuvông (Lào) 49 . Thư đánh máy, được viết bằng tiếng Pháp, đề ngày 10-5-1951. Cuối thư Chủ tịch Hồ Chí Minh ký tên: H .
130. Đ.X – 1951
Bút danh Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng từ năm 1951 đến năm 1955.
Với bút danh Đ.X , Người viết trên 250 bài đăng trên báo Cứu quốc .
Bài báo đầu tiên Người ký bút danh Đ.X là bài Tổng tuyển cử ở Pháp , đăng trên báo Cứu quốc , số 1841, ngày 16-6-1951.
Cũng với bút danh Đ.X , Người viết 50 bài giới thiệu những khái niệm về Giai cấp, Nhà nước, Đảng, Mặt trận, Chủ nghĩa xã hội, Chủ nghĩa Cộng sản, v.v., về cuộc đấu tranh để thực hiện Chủ nghĩa Cộng sản, đăng trên nhiều số báo Cứu quốc trong năm 1953. Năm 1954, các bài viết này được Nhà xuất bản Sự thật tập hợp lại và in thành sách với tiêu đề Thường thức chính trị nhằm cung cấp tài liệu học tập và tuyên truyền trong cán bộ và nhân dân.
131. V.K – 1951
Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng bút danh V.K trong các năm 1951, 1960 và 1961.
Với bút danh V.K, Người viết bốn bài đăng trên báo Nhân Dân . Bài báo đầu tiên Người ký bút danh V.K là bài Bệnh cá nhân địa vị, đăng trên báo Nhân Dân , ngày 9-8-1951.
Bài cuối cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh viết dưới bút danh V.K là bài Về sự lục đục của Mỹ và Diệm đăng trên báo Nhân Dân , số 2818, ngày 9-12-1961.
132. Nhân Dân 50 – 1951
Bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhan đề Chúc mừng ngày kỷ niệm lần thứ 34 Cách mạng Tháng Mười , đăng báo Nhân Dân , ngày 5-11-1951 và bài Nhân dân Việt Nam chúc mừng ngày kỷ niệm Đảng Cộng sản Trung Quốc , đăng báo Nhân Dân , ngày 1-3 đến ngày 7-3-1951. Các bài này do Người tự đánh máy và sửa chữa. Cuối bài ghi hai chữ: NHÂN DÂN.
133. N.T - 195l
Với bút danh N.T , Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài Phát ngôn của Chính phủ nhân tiếp các nhà báo 51 , ngày 22-12-1951.
Bài viết về một số vấn đề sau: trả lời các báo về vấn đề thuế nông nghiệp; về Nghị quyết của Hội nghị hoà bình thế giới nói về Việt Nam; về vấn đề chiến sự hiện nay. Cuối bài viết là bốn câu thơ chữ Hán của Người kèm lời dịch:
"Xuân vào cửa sổ đòi thơ,
Việc quân đang bận xin chờ hôm sau.
Chuông thu zéo zắt trước lầu
Là tin thắng trận Biên khu mới về”.
134. Nguyễn Du Kích – 1951
Với bút danh Nguyễn Du Kích , Chủ tịch Hồ Chí Minh dịch cuốn sách Tỉnh uỷ bí mật 52 của nhà văn Liên Xô A.Phêđôrốp.
Tỉnh ủy bí mật gồm 3 tập. Nguyễn Du Kích mới dịch tập I. Với lời dịch giản đơn, gọn mà sắc sảo, bằng cái tài của người dịch, Nguyễn Du Kích đã Việt Nam hoá Tỉnh ủy bí mật của Phêđôrốp mà vẫn giữ được đầy đủ nội dung. Người đọc như nghe một người Việt Nam kể về một tỉnh của Việt Nam kháng chiến.
Lời tựa cho cuốn sách là những lời chỉ dẫn quý báu cho cán bộ và nhân dân ta khi đọc Tỉnh uỷ bí mật , đồng thời nhắc nhở chúng ta phải học tập kinh nghiệm phong phú của du kích Liên Xô để đẩy mạnh chiến tranh du kích ở Việt Nam: “Ta sẵn có nền tảng nhân dân, chỉ cần củng cố thêm. Ta sẵn có cán bộ, chỉ cần đào tạo thêm. Ta sẵn có phong trào du kích, chỉ cần ra sức phát triển thêm. Kinh nghiệm du kích ở Liên Xô sẽ giúp thêm chúng ta, và chúng ta nhất định thành công trong việc đẩy mạnh phong trào du kích” 53 .
135. Nguyên – 1953
Nguyên là bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh ký dưới bài Thư từ Việt Nam - những con voi và những con muỗi , tháng 3-1953, viết bằng tiếng Pháp, gửi đăng báo Temps Nouveax (Thời Mới, Liên Xô). Mở đầu bài báo Người viết: “Trở về sau chuyến đi kiểm tra ở vùng chiếm đóng của Việt Nam, một nghị sĩ Pháp viết: Chúng ta làm chiến tranh chống lại Việt Minh như voi chống lại muỗi. Vị nghị sĩ này hẳn là nghĩ đến câu chuyện ngụ ngôn của La Phôngten kể về cuộc đánh nhau giữa con sư tử và con muỗi. Cuộc đọ sức đã kết thúc bằng cái chết của con sư tử và chiến thắng của con muỗi nhỏ bé...".
Kèm theo bài báo là bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Chú Thận (đồng chí Trường Chinh). Người viết: “Nhờ chú xem qua bài này rồi cho đánh máy 2 bản. 1 bản để lại, 1 bản chính gửi cho Tepms Nouveax, kèm theo một nốt: Nhờ chủ bút sửa chữa. Ký tên Nguyên”.
136. Hồng Liên – 1953
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký bút danh Hồng Liên dưới bài báo Nhân dịp Đại hội phụ nữ quốc tế, đăng trên báo Cứu quốc , 2362, ngày 19-6-1953.
137. Lê – 1954
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký bút danh Lê trong bài báo Bức thư ngỏ gửi Thủ tướng Pháp Măngđét Phơrăngxơ , đăng báo Nhân Dân , số 284, ngày 9-12-1954.
138. Tân Trào – 1954
Bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh ký dưới bài báo: Giải phóng Đài Loan đăng trên báo Nhân Dân , số 218, ngày 25 đến 27-8-1954.
139. H.B – 1955
Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng bút danh H.B năm 1955. Hiện mới sưu tầm được một bài viết ký bút danh H.B , đó là bài Có phê bình phải có tự phê bình , đăng trên báo Nhân Dân , số 488, ngày 4-7-1955. Trong bài báo, Người biểu dương những đơn vị khi được phê bình trên báo đã có bài tiếp thu phê bình và đề ra biện pháp sửa chữa khuyết điểm, đồng thời Người cũng phê phán những đơn vị không biết tự phê bình, không lên tiếng tiếp thu phê bình.
140. Nguyễn Tâm – 1957
Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng bút danh Nguyễn Tâm một lần cho bài viết Quyển nhật ký trong ngục của Bác 54 .
Bài được viết nhân dịp ngày sinh của Người, đăng báo Nhân Dân , ngày 19-5-1957.
141. K.C – 1957
Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng bút danh K.C trong năm 1957, 1958. Người viết bốn bài báo xung quanh việc Mỹ phóng vệ tinh nhân tạo.
142. Chiến Sĩ – 1958
Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng bút danh Chiến Sĩ từ năm 1958 đến năm 1968.
Với bút danh này, Người viết hơn 80 bài báo đăng trên báo Nhân Dân và Quân đội nhân dân . Bài đầu tiên Người ký bút danh Chiến Sĩ là bài Vũ khí hóa học: Hơi ngạt , đăng trên báo Quân đội nhân dân , số 473, ngày 15-8-1958.
Các bài ký bút danh Chiến Sĩ chủ yếu viết về đế quốc Mỹ và tố cáo tội ác của Mỹ. Một số bài viết về việc xây dựng nếp sống mới, tiết kiệm trong việc cưới, hội họp, v.v..
Trong số các bài ký bút danh Chiến Sĩ có bài Thanh niên anh hùng Lý Tự Trọng , đăng báo Nhân Dân , ngày 26-3-1964. Bài viết về tấm gương anh hùng Lý Tự Trọng, một trong số những thiếu niên được Hội Việt Nam cách mạng thanh niên chọn gửi đi học ở Trung Quốc, sau được đưa về hoạt động ở Việt Nam. Đầu năm 1931, Lý Tự Trọng bị bắt ở Sài Gòn trong khi bảo vệ cho một cán bộ cách mạng đang diễn thuyết. Bị bắt lúc tuổi đời còn rất trẻ, 17 tuổi, nhưng Lý Tự Trọng rất hiên ngang, anh dũng. Nhân ngày kỷ niệm thành lập Đoàn, Chủ tịch Hồ Chí Minh có bài viết này để động viên thế hệ trẻ Việt Nam noi gương anh hùng Lý Tự Trọng.
143. T. – 1958
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký bút danh T. trong bài báo Phong trào vệ sinh yêu nước đang sôi nổi tại Trung Quốc , đăng báo Nhân Dân , ngày 29-l-1958.
144. L.X.H – 1958
Ngày 5-5-1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài Những lời dạy bảo thắm thiết , ký bút danh L.X.H khi về thăm Nhà máy Điện Yên Phụ. Người khuyên cán bộ công nhân nhà máy nên học kinh nghiệm của nhân dân Trung Quốc để làm tốt mọi công việc được giao.
145. Thu Giang – 1959
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký bút danh Thu Giang trong bài Bác đến thăm Côn Minh , đăng trên báo Nhân Dân , ngày 12-4-1959.
Bài viết về chuyến đi thăm Côn Minh ngày 9-3-1959 của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hai lần trước, lần thứ nhất (năm 1940) lần thứ hai (năm 1945), Người đến Côn Minh trong điều kiện hoạt động bí mật. Lần này, Người đến Côn Minh khi Trung Quốc đã được giải phóng. Côn Minh đổi thay rất nhiều, nền kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao.
146. Nguyên Hảo Studiant (Nguyên Hảo, sinh viên) 55 – 1959
Bí danh Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng năm 1959. Với bí danh Nguyên Hảo Studiant , Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư gửi giáo sư Ivan Duycel (Bungari) , ngày 10-4-1959.
147. Ph.K.A – 1959
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký bút danh Ph.K.A trong bài Cuộc nghỉ hè 2 vạn 3 nghìn cây số , viết về chuyến đi thăm và nghỉ hè ở Trung Quốc và Liên Xô của Người, giới thiệu những thành quả trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của hai nước.
Trong chuyến đi thăm và nghỉ gần 2 tháng, Người đã đến 10 nước cộng hoà Xôviết và 19 thành phố ở Liên Xô; 5 tỉnh và 7 thành phố của Trung Quốc, đi bằng đủ các phương tiện: máy bay, tàu thuỷ, xe lửa, ô tô, đã gặp nhiều bạn cũ và thêm nhiều bạn mới, đã tiếp xúc với mấy chục dân tộc khác nhau, đã thăm nhiều nông trường, nhà máy, trường học, trại nhi đồng, nhà gửi trẻ, v.v.. Bài đăng trên báo Nhân Dân trong nhiều số, từ số 2011, ngày 18-9-1959 đến số 2038, ngày 15-10-1959.
148. C.K - 1960
Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng bút danh C.K trong năm 1960. Người viết trên 20 bài báo về cần kiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội, Người chỉ rõ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam là phải công nghiệp hoá nước nhà.
Bài đầu tiên: Bắt đầu từ hai chữ 56 , đăng báo Nhân Dân ngày 14-1-1960, viết về thực hành cần kiệm để xây dựng chủ nghĩa xã hội.
149. Tuyết Lan – 1960
150. Giăng Pho (Jean Fort) – 1960
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký bút danh Tuyết Lan trong bài Ba chai rượu sâm banh , đăng trên báo Nhân Dân , số 2231, ngày 27-4-1960. Dưới hình thức dịch lại bức thư của một công nhân tên là Giăng Pho ở Angiêri gửi cho tác giả nói về tình cảm của một người bạn quốc tế đối với Nguyễn Ái Quốc thời kỳ ở Pari và những năm sau này.
151. Trần Lam – 1960
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký bút danh Trần Lam trong bài Chuyện giả mà có thật đăng báo Nhân Dân số 2242, ngày 9-5-1960.
Bài viết kể về những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc ở Thái Lan.
152. Một người Việt kiều ở Pháp về - 1960
Là tên đề dưới bài viết Vài mẩu chuyện trong hồi Bác sang thăm Pháp 57 . Bài viết gửi báo Nhân Dân , nhân dịp ngày 19-5-1960.
153. K.K.T - khoảng năm 1960
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký bút danh K.K.T dưới bài viết: Tinh thần yêu nước và tinh thần quốc tế 58 . Bài viết kêu gọi nhân dân Việt Nam nêu cao tinh thần yêu nước và tinh thần quốc tế, ủng hộ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Angiêri.
154. T.Lan – 1961
Bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm Vừa đi đường vừa kể chuyện , đăng nhiều kỳ trên báo Nhân Dân , tháng 5-1961 và một bài báo khác nhan đề Bác ăn tết với chúng tôi , đăng báo Nhân Dân ngày 14-2-1961.
Vừa đi đường vừa kể chuyện là những mẩu chuyện về đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước năm 1945 được tác giả kể lại trên đường đi chiến dịch Biên giới năm 1950 và trở về căn cứ kháng chiến Việt Bắc. Câu chuyện bắt đầu từ những ngày hoạt động bí mật ở Pháp những năm 1920 cho đến ngày Người trở về Tổ quốc sau 30 năm xa cách.
Bằng lối kể chuyện hấp dẫn, đan xen giữa quá khứ và hiện tại, bằng những dẫn chứng cụ thể, tác giả khẳng định: Dù thế lực phản động có lớn mạnh, hung ác, quỷ quyệt, cuối cùng cũng bị lực lượng cách mạng đập tan, "chủ nghĩa xã hội nhất định sẽ thực hiện khắp thế giới: điều đó cũng rõ rệt và chắc chắn như mặt trời mọc từ phương Đông”.
Vừa đi đường vừa kể chuyện đã cung cấp những tư liệu đặc biệt quý giá về những năm tháng hoạt động cách mạng bí mật của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
155. Luật sư Th.Lam – 1961
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký bút danh Luật sư Th.Lam trong bài viết Kính hỏi Ủy ban quốc tế giám sát và kiểm sát đăng báo Nhân Dân , ngày 5-8-1961. Bài viết về việc Mỹ không thi hành Hiệp nghị Giơnevơ ở Việt Nam.
156. Ly – 1961
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký tên Ly trong bức điện đề ngày 13-12-1961, gửi đồng chí Aidít, Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Inđônêxia 59 , báo tin đã nhận được điện của đồng chí và thông báo tình hình sức khoẻ của Người.
157. Lê Thanh Long – 1963
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký bút danh Lê Thanh Long trong bài Nhân dịp mừng Đảng ta 33 tuổi , đăng báo Nhân Dân , ngày 4-2-1963. Bài viết về hoạt động và những thành tích của Đảng Lao động Việt Nam trong 33 năm qua; sự giúp đỡ của các Đảng anh em đối với Đảng Lao động Việt Nam.
158. CH. KOPP (Alabama) – 1963
Bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh ký dưới bài Chó Mỹ da trắng cắn Mỹ da đen , đăng báo Nhân Dân , ngày 30-4-1963. Bài viết tố cáo chế độ phân biệt chủng tộc ở Mỹ.
159. Thanh Lan – 1963
Bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh ký dưới bài Đại hội phụ nữ quốc tế , đăng báo Nhân Dân , số 337, ngày 26-6-1963. Bài viết về Đại hội quốc tế phụ nữ họp ở Mátxcơva.
160. Ngﬞ. Văn Trung - 1963
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký bút danh Ngﬞ. Văn Trung trong bài: Phải chăng rồng lấy nước , gửi Ban biên tập báo Khoa học kỹ thuật , tháng 6-1963. Bài viết đề nghị báo Khoa học kỹ thuật giải thích hiện tượng rồng lấy nước.
161. Ngô Tam – 1963
Ngày 7-9-1963, từ Trung Quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Thư gửi đồng chí Lê Duẩn 60 thư ký tên Ngô Tam . Trong thư, Người thông báo tình hình sức khoẻ của Người và hỏi thăm một số tình hình trong nước.
162. Nguyễn Kim – 1963
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký bút danh Nguyễn Kim trong bài Thư bạn đọc , đăng báo Nhân Dân , ngày 7-2-1951.
163. Dân Việt – 1964
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký bút danh Dân Việt trong bài Thư ngỏ gửi ngài ngoại trưởng Anh Cát Lợi , đăng báo Nhân Dân , ngày 22-1-1964.
164. Đinh Văn Hảo – 1964
Bút danh Chủ tịch Hồ Chí Minh ký dưới bức thư gửi Chủ bút báo Tân Việt Hoa 61 , ngày 2-5-1964.
165. C.S – 1964
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký bút danh C.S trong bài Chó Mỹ , đăng báo Nhân Dân , ngày 10-9-1964. Bài viết về những thất bại của đế quốc Mỹ trong việc đưa các loại chó Mỹ, chó tay sai vào Việt Nam.
166. Lê Nông – 1964
Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng bút danh Lê Nông trong các năm 1964-1966.
Bài viết đầu tiên Người ký bút danh Lê Nông là bài Một mẫu tây gặt được 13 tấn thóc , đăng báo Nhân Dân từ ngày 15 đến 18-9-1964.
Có bốn bài ký bút danh Lê Nông . Trong đó có ba bài viết về kinh nghiệm làm nông nghiệp.
167. L.K - Khoảng năm 1964
Bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh ký dưới bài: Báo chí Anh lột trần âm mưu của Mỹ ở Việt Nam 62 .
168. K.O – 1965
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký bút danh K.O 63 trong bài Người mới việc mới , đăng báo Nhân Dân ngày 10-9-1965. Bài viết về gương người tốt việc tốt được Bác Hồ thưởng huy hiệu.
169. Lê Ba – 1966
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký bút danh Lê Ba trong bài: Trả lời ông Menphin thượng nghị sĩ Mỹ , đăng báo Nhân Dân , số 4407, ngày 30-4-1966. Bài viết khẳng định lập trường của Chính phủ Việt Nam là Mỹ phải chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam.
170. La Lập – 1966
Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng bút danh La Lập trong năm 1966.
Người ký bút danh La Lập trong hai bài báo, trong đó có bài Tổng Giôn phạm tội ác tầy trời , đăng báo Nhân Dân , số 4508, ngày 10-8-1966, tố cáo tội ác của đế quốc Mỹ gây ra ở Việt Nam, đặc biệt là việc chúng ném bom xuống các nhà thương, trong đó có nhà thương chữa bệnh phong ở Quỳnh Lập, Nghệ An.
171. Nói Thật – 1966
Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng bút danh Nói Thật trong năm 1966. Người viết bốn bài báo ký bút danh Nói Thật , đăng báo Nhân Dân .
172. Chiến Đấu – 1967
Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng bút danh Chiến Đấu trong năm 1967. Người viết hai bài báo. Bài Giôn Sơn nhăn nhó mặt mo . Phần lo thua trận, phần lo dân cười, đăng báo Nhân Dân số 4813, ngày 14-6-1967 và bài Lại thêm một thắng lợi to lớn của Trung Quốc anh em , đăng báo Nhân Dân , số 4765, ngày 24-6-1967, viết về thắng lợi của Trung Quốc trong việc thử thành công quả bom khinh khí đầu tiên.
173. Việt Hồng – 1968
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký bút danh Việt Hồng trong bài Vừa đi đường vừa kể chuyện về Các Mác , đăng báo Nhân Dân , số 5137, ngày 5-5-1968. Chủ tịch Hồ Chí Minh kể một số mẩu chuyện liên quan đến Các Mác; về những hoạt động của Người ở Pháp; về chủ nghĩa Mác.
174. Đinh Nhất – 1968
Tháng 5-1964, đi thăm Côn Minh, Trung Quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng bí danh Đinh Nhất .
Người còn ký tên Đinh Nhất trong Thư gửi các đồng chí Chu Ân Lai và Đặng Dĩnh Siêu 64 ngày 25-5-1968. Người thông báo tình hình sức khoẻ của Người sau thời gian đi nghỉ ở Trung Quốc về.
Thư viết bằng chữ Hán.
_________
1. Bài viết nhan đề : Hồ Chủ tịch (giới thiệu tóm tắt một đoạn tiểu sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh). Bản chụp bản thảo bài viết lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh (T.G).
2. Báo Nhân Dân , ngày 18-5-1965.
3. Báo Nhân Dân , ngày 18-5-1965.
4. Cuồng Điệt có nghĩa là người cháu hăng say.
5. Trần Dân Tiên: Hồ Chí Minh truyện , Nxb. Tháng Tám, Thượng Hải, Trung Quốc, tháng 6-1949, tiếng Hán. Bản dịch tiếng Việt lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
6. Báo Le Libertaire (Người tự do), tuần báo của Hội vô chính phủ cộng sản, sau này là cơ quan ngôn luận của Liên đoàn cộng sản tự do Pháp, xuất bản ở Pari từ năm 1895 (T.G).
7. Báo Le Paria (Người cùng khổ) là cơ quan tuyên truyền của Hội Liên hiệp thuộc địa do Nguyễn Ái Quốc và một số nhà cách mạng Angiêri, Mangát, Máctiních, Marốc... sáng lập năm 1922 tại Pari. Nguyễn Ái Quốc là chủ nhiệm kiêm chủ bút của tờ báo. Báo xuất bản bằng tiếng Pháp. Số 1 ra ngày 1-4-1922, đến tháng 4-1926 bị đình bản. Báo ra được 38 số.
Kết quả nghiên cứu hiện nay cho biết: Nguyễn Ái Quốc dùng 7 bút danh khác nhau viết 38 bài, vẽ 5 bức tranh đăng trên báo Le Paria.
8. Báo L' Humannité (Nhân đạo) là tờ báo hàng ngày của Đảng Xã hội Pháp do Giăng Giôrét sáng lập năm 1904. Sau Đại hội lần thứ VIII của Đảng Xã hội Pháp (Đại hội Tua), tháng 12-1920, Đảng Cộng sản Pháp được thành lập, báo Nhân Đạo trở thành cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng Cộng sản Pháp.
9. Tạp chí Nữ công nhân , tiếng Nga.
10. Do cách phiên âm, có sách in là: Ông Lưu.
11. V.V.Visơniacôva – Akimôva: Hai năm ở nước Trung Hoa quật khởi (1925-1927), tiếng Nga, Mátxcơva, 1965, tr.76.
Dẫn theo: Hồ Chí Minh – Tiểu sử , Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội, 2006, tr.159.
12. Báo Nhân Dân là cơ quan ngôn luận Trung ương của Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam), ra thay cho tờ Sự thật . Báo Nhân Dân số 1 ra ngày Chủ nhật, 11-3-1951.
Bác Hồ dành một sự quan tâm đặc biệt cho báo Nhân Dân . Người viết trên 1.200 bài đăng báo Nhân Dân (T.G).
13. Nay là Mianma (B.T).
14. Chữ Hán viết Lý Mỗ, dịch sang tiếng Việt là X., đó là một cách giấu tên.
15. Các bài này lần đầu tiên được đăng trong Hồ Chí Minh toàn tập , Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995. Tuy nhiên các nhà biên tập xếp các bài này ở phần phụ lục để nghiên cứu thêm.
16. Trong Hồ Chí Minh toàn tập không ghi bút danh, bản chụp tạp chí lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh ghi bút danh X.X.
17. Có tài liệu viết là Chín Thậu (B.T).
18. Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch , Nxb. Sự thật, 1975,tr.71.
19. Bản chụp bút tích tiếng Pháp ở Bảo tàng Hồ Chí Minh ghi là L.M. Wang, trong Hồ Chí Minh toàn tập ghi là L.M.Vương (T.G).
20. Căn cứ vào nội dung thư và diễn biến của tình hình chính trị lúc đó, khả năng có thể như viết vào đầu năm 1931 chứ không phải đầu năm 1930 như trong Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử ghi. “Mua hối phiếu của công ty xe lửa tốc hành Mỹ...” ngầm hiểu như một số nhà nghiên cứu nhận định là mua vé xe lửa cho Nguyễn Ái Quốc rời khỏi Hồng Kông. Nguyễn Ái Quốc cũng đã dự đoán trước tình hình, song chưa kịp thu xếp thì người bị bắt ngày 6-6-1931.
21. Trong bản chụp tài liệu ghi ở cuối: K. (Kwac), có thể hiểu, Kwac là Quốc, Nguyễn Ái Quốc (T.G).
22. Bản thảo bài viết lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
23. Báo Notre voix là tuần báo công khai bằng tiếng Pháp của Đảng xuất bản tại Hà Nội trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ (1936-1939). Trong thời gian trở lại họat động ở Trung Quốc (1938), Nguyễn Ái Quốc đã theo dõi sát sao cuộc vận động thành lập Mặt trận Dân chủ Đông Dương. Dưới danh nghĩa một nhà báo Trung Quốc, Người viết một số bài báo gửi đăng trên tờ Notre voix .
24. Tiếng Quảng Đông, Trung Quốc là Đặng Vạn Hoàn (T.G).
25. Bài báo này được đăng trên báo Tiếng nói của chúng ta với nhan đề: Người Nhật Bản muốn khai hóa Trung Quốc như thế nào?
26. Báo Dân chúng : Cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Đông Dương, xuất bản công khai từ ngày 22-7-1938 tại Sài Gòn, dưới danh nghĩa là cơ quan của những người lao động và dân chúng Đông Dương (T.G).
27. Cứu vong nhật báo là tờ báo do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo trong thời kỳ chiến tranh chống Nhật, được sáng lập ở Thượng Hải tháng 8-1937, sau chuyển về Quảng Châu, ra mắt vào dịp Tết nguyên đán năm 1938, mùa thu năm 1938 dời về Quế Lâm, ra lại vào ngày 10-1-1939 (T.G).
28. Báo Việt Nam độc lập là cơ quan tuyên truyền của Ban Việt Minh tỉnh Cao Bằng do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập.
Số đầu tiên báo Việt Nam độc lập (đánh số 101) ra ngày 1-8-1941. Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp chỉ đạo từ số 1, ngày 1-8-1941 đến tháng 8-1942. Từ tháng 8-1942 đến tháng 5-1945, do đồng chí Phạm Văn Đồng phụ trách. Tính đến ngày 30-9-1945, báo Việt Nam độc lập ra được 129 số.
29. Pêtanh (Pétain) (1856-1951) là Thống chế Pháp (1918). Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, Pêtanh chỉ huy quân đội Pháp chống Đức ở mặt trận Đông Bắc. Từ năm 1940 đến năm 1944, Pêtanh đứng đầu Chính phủ Visi (Vichy), sau đầu hàng và hợp tác với Đức. Năm 1945, Pêtanh bị toà án Pháp tuyên án tử hình về tội phản quốc, sau giảm xuống tù chung thân.
30. Đầu nguồn , Nxb. Văn học, Hà Nội, 1975, tr.261.
31. Báo Đồng minh do tổ chức Việt Nam cách mệnh đồng minh hội phát hành ở Liễu Châu, Trung Quốc, số đầu tiên ra ngày 1-1-1943. Sau Cách mạng Tháng Tám, trụ sở biên tập của báo chuyển về Hà Nội. Tháng 6-1946, báo Đồng minh tự đóng cửa.
32. Trước khi đi Trung Quốc, tháng 8-1942 Người đã viết sẵn nhiều bài giao lại cho đồng chí Phạm Văn Đồng để đăng dần trên báo Việt Nam độc lập .
33. Sáclơ Phen (Charles Fenn), trung úy Mỹ trong OSS (Cơ quan nghiên cứu chiến lược Mỹ), là người trực tiếp điều khiển nhóm tình báo đồng minh đang hoạt động trên đất Việt Nam lúc đó.
34. Báo Cứu quốc là cơ quan của Tổng bộ Việt Minh, xuất bản số 1, ngày 25-1-1942. Cho đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945, báo ra được 30 số. Sau Cách mạng Tháng Tám, báo Cứu quốc chuyển về Hà Nội, xuất bản công khai từ số 31, ngày 24-8-1945.
Chủ tịch Hồ Chí Minh viết khoảng 400 bài đăng trên báo Cứu quốc . Bút danh Đ.X được người sử dụng nhiều nhất. Các bài Người viết cho báo Cứu quốc đăng trong các năm 1946-1955.
35. Tiếng địa phương có nơi gọi là Khôn Ké (T.G).
36. Tiếng địa phương một số nơi còn gọi Avoóc Hồ, Bok Hồ, Già Hồ.
37. Tập Nhật ký hành trình của Chủ tịch Hồ Chí Minh bốn tháng sang Pháp được đăng trên báo Cứu quốc từ ngày 11-11-1946 đến ngày 17-12-1946 và được công bố lần đầu tiên trong Hồ Chí Minh toàn tập , Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995.
38. Bản thảo bài viết lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh (T.G).
39. Báo Sự thật là cơ quan tuyên truyền , cổ động của Hội nghiên cứu chủ nghĩa Các Mác ở Đông Dương do đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương, dưới danh nghĩa Chủ nhiệm Hội, trực tiếp chỉ đạo. Báo S ự thật ra số 1, ngày 5-12-1945.
Hiện sưu tầm được 26 bài Chủ tịch Hồ Chí Minh viết cho báo Sự thật .
40. Nhật ký của một Bộ trưởng , Nxb. Đà Nẵng, 1995.
41. Bản chụp bút tích bài viết lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
42. Bản chụp bút tích bài viết lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
43. Bài báo này trong sách Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử ghi Bác ký bút danh G.Z. Chúng tôi đã đối chiếu với báo Sự thật , bài đăng trên báo Bác ký bút danh G. (T.G).
44. Tập san Sinh hoạt nội bộ là cơ quan Trung ương huấn luyện công tác và lý luận của đoàn thể, ra số 1 tháng 8-1947.
Tập san Sinh họat nội bộ chỉ lưu hành trong nội bộ, ra được 20 số, đến ngày 2-3-1950 thì ngừng. Sau đó, Tạp chí Cộng sản , do đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh làm chủ nhiệm, ra thay tập san Sinh hoạt nội bộ.
45. Tạp chí Học tập là tạp chí lý luận và chính trị của Đảng Lao động Việt Nam, số 1, ra tháng 12-1955. Từ tháng 1-1977, Tạp chí Học tập đổi thành Tạp chí Cộng sản.
46. Bản chụp bản thảo bài viết lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
47. Tuần báo: Vì một nền hòa bình lâu dài
Vì một nền dân chủ nhân dân
(Pour une paix durable, pour une démocrative populaire), là cơ quan ngôn luận của Cục Thông tin quốc tế, xuất bản từ tháng 11-1947 đến năm 1956 bằng nhiều thứ tiếng. Bản gửi đến Việt Nam là bản tiếng Pháp. Các bài Chủ tịch Hồ Chí Minh viết cho báo đều ký bút danh Đanh.
48. Bản sao toàn văn bức điện lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
49. Bản chụp bản thảo bài viết lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
50. Bản chụp bản thảo bài viết lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
51. Bản chụp bản thảo bài viết lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
52. Nhà xuất bản Văn nghệ in lần thứ nhất năm 1951 (T.G).
53. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd , t.7, tr.237.
54. Bản thảo bài viết lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
55. Bản thảo bài viết lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
56. Hai chữ: cần kiệm (T.G).
57. Bản thảo bài viết lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
58. Bản thảo bài viết lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
59. Bản thảo bức điện lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
60. Bản thảo bức thư lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
61. Bản thảo bức thư lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
62. Bản thảo bài viết lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
63. Bản thảo viết tay lần đầu Chủ tịch Hồ Chí Minh ký bút danh V.K, bản lần thứ hai, đánh máy, có bút tích của Người, ký bút danh K.O (T.G).
64. Bản thảo thư lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Những tên gọi bí danh, bút danh cần nghiên cứu thêm 1. U L . : Bút danh dùng năm 1922.
2. H.A .: Bút danh ký dưới bài viết đăng trên báo Người cùng khổ , năm 1923.
3. Một Hạ Sĩ : Bút danh sử dụng năm 1925 2 .
4. Nguyễn Hữu Văn : Bút danh ký dưới bài viết đăng trên báo Công nhân Bacu , năm 1927.
5. Nguyễn Hải Khách : Bí danh dùng năm 1924.
6. Vương Bạt Nhược : Bút danh ký dưới bài đăng báo Thanh niên và bí danh khi hoạt động ở Quảng Châu, Trung quốc năm 1925.
7. Diệu Hương : Bút danh ký dưới bài đăng báo Thanh niên , năm 1926.
8. T.V : Bí danh dùng khi ở Hương Cảng.
9. Wai you : Bí danh dùng khi ở Hương Cảng.
10. Chính : Bí danh dùng khi hoạt động ở Thái Lan.
11. Tín : Bí danh dùng khi hoạt động ở Thái Lan.
12. Thi sơn : Bút danh dùng năm 1951.
13 . D.Z.D : Bút danh dùng năm 1952.
14. A.B.C : Bút danh dùng năm 1953.
15. L : Bút danh ký dưới bài viết năm 1959.
16. Đ.L.Đ : Bút danh ký dưới các bài viên đăng báo Cứu quốc.
17. T.R : Bút danh ký dưới bài viết đăng báo Cứu quốc .
18. H.L : Bút danh ký dưới bài đăng báo Nhân Dân .
19. H.C : Bút danh ký dưới bài đăng báo Nhân Dân.
20. Lê Đinh : Ký trong một số bức điện gửi ra nước ngoài.
____________
1. Trong quá trình biên soạn tập sách này, chúng tôi thấy một số bài báo và bài nghiên cứu của một số tác giả có đưa ra tên gọi, bí danh, bút danh trên. Vì chưa có cơ sở chắc chắn nên chúng tôi chưa sử dụng. Chúng tôi tập hợp ra đây để cùng tiếp tục nghiên cứu (T.G).
2. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh với báo chí cách mạng Việt Nam , Nxb. Thông tấn, Hà Nội, 2004.
Tổng hợp tên gọi, bí danh, bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng từ năm 1890 đến năm 1969
| TT | Tên | Năm sử dụng |
| 1 | Nguyễn Sinh Cung | 1890 |
| 2 | Nguyễn Sinh Côn | 1954 |
| 3 | Nguyễn Tất Thành | 1901 |
| 4 | Nguyễn Văn Thành |
|
| 5 | Nguyễn Bé Con | 1920 |
| 6 | Văn Ba | 1911 |
| 7 | Pôn Tất Thành (Paul Tất Thành) | 1912 |
| 8 | Tất Thành | 1914 |
| 9 | Paul Thành (Paul Thanh) | 1945 |
| 10 | Nguyễn Ái Quốc | 1919 |
| 11 | Phécđinăng |
|
| 12 | Nguyễn A.Q | 1921 – 1926 |
| 13 | CULIXE | 1922 |
| 14 | N.A.Q | 1922 |
| 15 | Ng.A.Q | 1922 |
| 16 | Hăngi Trần (Henri Tchen) | 1922 |
| 17 | N | 1923 |
| 18 | Chen Wang | 1923 |
| 19 | Nguyễn | 1923 |
| 20 | Chú Nguyễn | 1923 |
| 21 | Ái Quốc | 1924 |
| 22 | Un Annamite (Một người An Nam) | 1924 |
| 23 | Loo Shing Yan | 1924 |
| 24 | Ông Lu | 1924 |
| 25 | Lý Thụy | 1924 |
| 26 | Lý An Nam | 1924 – 1925 |
| 27 | Nilốpxki (N.A.Q) | 1924 |
| 28 | Vương | 1925 |
| 29 | L.T | 1925 |
| 30 | HOWANG T.S | 1925 |
| 31 | Z.A.C | 1925 |
| 32 | Lý Mỗ | 1925 |
| 33 | Trương Nhược Trừng | 1925 |
| 34 | Vương Sơn Nhi | 1925 |
| 35 | Vương Đạt Nhân | 1926 |
| 36 | Mộng Liên | 1926 |
| 37 | X. | 1926 |
| 38 | H.T | 1926 |
| 39 | Tống Thiệu Tổ | 1926 |
| 40 | X.X | 1926 |
| 41 | Wang | 1927 |
| 42 | N.K | 1927 |
| 43 | N.Ái Quốc | 1927 |
| 44 | Liwang | 1927 |
| 45 | Ông Lai | 1927 |
| 46 | A.P | 1927 |
| 47 | N.A.K | 1928 |
| 48 | Nguyễn Lai | 1928 |
| 49 | Thọ | 1928 |
| 50 | Nam Sơn | 1928 |
| 51 | Chín (Thầu Chín) | 1928 |
| 52 | Víchto Lơbông (Victor Lebon) | 1930 |
| 53 | Ông Lý | 1930 |
| 54 | Ng.Ái Quốc | 1930 |
| 55 | L.M Vang | 1930 |
| 56 | Tiết Nguyệt Lâm | 1930 |
| 57 | Pôn (Paul) | 1930 |
| 58 | T.V. Wang | 1930 |
| 59 | Công Nhân | 1930 |
| 60 | Vícto | 1930 |
| 61 | V. | 1930 |
| 62 | K. | 1931 |
| 63 | Đông Dương | 1931 |
| 64 | Quac.E.Wen | 1931 |
| 65 | K.V | 1931 |
| 66 | Lão Trịnh | 1931 |
| 67 | Năm | 1931 |
| 68 | Lý Phát | 1931 |
| 69 | Viên | 1931 |
| 70 | Tống Văn Sơ | 1931 |
| 71 | New Man | 1933 |
| 72 | Lin | 1934 |
| 73 | Linốp | 1934 |
| 74 | Teng Man Huon | 1935 |
| 75 | Hồ Quang | 1938 |
| 76 | P.C Lin (P.C Line) | 1938 |
| 77 | D.C Lin | 1939 |
| 78 | Lâm Tam Xuyên | 1939 |
| 79 | Ông Trần | 1940 |
| 80 | Bình Sơn | 1940 |
| 81 | Di Đông (Dis-donc) |
|
| 82 | Cúng Sáu Sán | 1941 |
| 83 | Già Thu | 1941 |
| 84 | Kim Oanh | 1941 |
| 85 | Bé Con | 1941 |
| 86 | Ông Cụ | 1941 |
| 87 | Hoàng Quốc Tuấn | 1941 |
| 88 | Bác | 1941 |
| 89 | Thu Sơn | 1942 |
| 90 | Xung Phong | 1942 |
| 91 | Hồ Chí Minh | 1942 |
| 92 | Hy Sinh | 1942 |
| 93 | Cụ Hoàng | 1945 |
| 94 | C.M. Hồ | 1945 |
| 95 | Chiến Thắng | 1945 |
| 96 | Ông Ké | 1945 |
| 97 | Hồ Chủ tịch | 1945 |
| 98 | Hồ | 1945 |
| 99 | Q.T | 1945 |
| 100 | Q.Th | 1945 |
| 101 | Lucius | 1945 |
| 102 | Bác Hồ | 1946 |
| 103 | H.C.M | 1946 |
| 104 | Đ.H | 1946 |
| 105 | Xuân | 1946 |
| 106 | Một người Việt Nam | 1946 |
| 107 | Tân Sinh | 1947 |
| 108 | Anh | 1947 |
| 109 | X.Y.Z | 1947 |
| 110 | A. | 1947 |
| 111 | A.G | 1947 |
| 112 | Z. | 1947 |
| 113 | Lê Quyết Thắng | 1948 |
| 114 | K.T | 1948 |
| 115 | K.Đ | 1948 |
| 116 | G. | 1949 |
| 117 | Trần Thắng Lợi | 1949 |
| 118 | Trần Lực | 1949 |
| 119 | H.G | 1949 |
| 120 | Lê Nhân | 1949 |
| 121 | T.T | 1949 |
| 122 | Đanh (Din) | 1950 |
| 123 | Đinh | 1950 |
| 124 | T.L | 1950 |
| 125 | Chí Minh | 1950 |
| 126 | Nguyễn Thao Lược | 1951 |
| 127 | B. | 1951 |
| 128 | C.B | 1951 |
| 129 | H. | 1951 |
| 130 | Đ.X | 1951 |
| 131 | V.K | 1951 |
| 132 | Nhân Dân | 1951 |
| 133 | N.T | 1951 |
| 134 | Nguyễn Du Kích | 1951 |
| 135 | Nguyên | 1953 |
| 136 | Hồng Liên | 1953 |
| 137 | Lê | 1954 |
| 138 | Tân Trào | 1954 |
| 139 | H.B | 1955 |
| 140 | Nguyễn Tâm | 1957 |
| 141 | K.C | 1957 |
| 142 | Chiến sĩ | 1958 |
| 143 | T. | 1958 |
| 144 | L.X.H | 1958 |
| 145 | Thu Giang | 1959 |
| 146 | Nguyên Hảo Studiant (Nguyên Hảo, sinh viên) | 1959 |
| 147 | Ph.K.A | 1959 |
| 148 | C.K | 1950 |
| 149 | Tuyết Lan | 1960 |
| 150 | Giăng Pho (Jean Fort) | 1960 |
| 151 | Trần Lam | 1960 |
| 152 | Một người Việt kiều ở Pháp về | 1960 |
| 153 | K.K.T | 1960 |
| 154 | T.Lan | 1961 |
| 155 | Luật sư Th.Lam | 1961 |
| 156 | Ly | 1961 |
| 157 | Lê Thanh Long | 1963 |
| 158 | Ch.KOPP (Alabama) | 1963 |
| 159 | Thanh Lan | 1963 |
| 160 | Ng. Văn Trung | 1963 |
| 161 | Ngô Tam | 1963 |
| 162 | Nguyễn Kim | 1963 |
| 163 | Dân Việt | 1964 |
| 164 | Đinh Văn Hảo | 1964 |
| 165 | C.S | 1964 |
| 166 | Lê Nông | 1964 |
| 167 | L.K | 1964 |
| 168 | K.O | 1965 |
| 169 | Lê Ba | 1966 |
| 170 | La Lập | 1966 |
| 171 | Nói Thật | 1966 |
| 172 | Chiến Đấu | 1967 |
| 173 | Việt Hồng | 1968 |
| 174 | Đinh Nhất | 1968 |
Danh mục sách và tài liệu tham khảo 1. Hồ Chí Minh: Toàn tập , Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015, 15 tập.
2. Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử , Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1992-1996, 10 tập
3. Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch , Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1975
4. T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện , Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1976
5. Hồng Hà: Thời thanh niên của Bác , Nxb.Thanh niên, Hà Nội, 1976
6. Hồng Hà: Bác Hồ trên đất Lênin , Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1980
7. Nguyễn Thành: Sự nghiệp báo chí của Chủ tịch Hồ Chí Minh , Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1988.
8. Đ.X: Phe nào mạnh, phe nào yếu? , Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1952
9. Đầu nguồn , Hồi ký về Bác Hồ, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1975.
10. Bác Hồ về nước , Hồi ký nhiều tác giả, Hội văn học nghệ thuật Cao Bằng xuất bản, 1986.
11. Bác Hồ , Hồi ký, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1975
12. Lê Văn Hiến: Nhật ký của một Bộ trưởng , Nxb. Đà Nẵng, 1995.
13. Báo Người cùng khổ (Le Paria).
14. Tạp chí Thư tín quốc tế (Inprekorr).
15. Báo Thanh niên.
16. Báo Tiếng nói của chúng ta (Notre Voix).
17. Báo Dân chúng (Le Populaire).
18. Báo Việt Nam độc lập .
19. Báo Sự thật.
20. Báo Cứu quốc.
21. Báo Nhân Dân.
22. Tạp chí Xưa và nay.
23. Tư liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Bản quyền thuộc Cục Chuyển đổi số - Cơ yếu